Giới thiệu về Luật Giám định tư pháp ?

Ngày 20 tháng 6 năm 2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Giám định tư pháp. Ngày 02 tháng 7 năm 2012, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Lệnh công bố Luật Giám định tư pháp và luật sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.

Sự cần thiết ban hành Luật Giám định tư pháp

Giám định tư pháp là một loại hoạt động bổ trợ tư pháp, là công cụ quan trọng, phục vụ đắc lực cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật. Vì thế, để kịp thời phục vụ cho việc thực hiện Bộ luật Hình sự năm 1987, ngày 21 tháng 7 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 117/HĐBT về giám định tư pháp. Tiếp đó, ngày 29 tháng 9 năm 2004, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Giám định tư pháp, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2005.

Sau 6 năm triển khai thi hành Pháp lệnh, công tác giám định tư pháp đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Hệ thống tổ chức giám định tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự ở Trung ương và địa phương đã được củng cố, kiện toàn, cụ thể là đã thành lập Viện Pháp y Quốc gia, 44 Trung tâm Pháp y, 17 Phòng giám định pháp y cấp tỉnh; Viện giám định Pháp y tâm thần Trung ương thuộc Bộ Y tế, 28 Trung tâm giám định pháp y tâm thần; Viện Khoa học hình sự thuộc Bộ Công an tiếp tục phát triển là tổ chức đầu ngành, làm nòng cốt cho việc kiện toàn các Phòng kỹ thuật hình sự ở Công an cấp tỉnh. Đội ngũ giám định viên tư pháp đã được tăng cường, tính đến nay đã có 3.633 giám định viên trên các lĩnh vực được cấp thẻ giám định viên tư pháp. Cơ sở vật chất, phương tiện công tác và các điều kiện cần thiết khác phục vụ cho hoạt động giám định đã được chú trọng, đầu tư. Công tác quản lý nhà nước về giám định tư pháp bước đầu được đổi mới phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Hoạt động giám định tư pháp đã góp phần quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, kết luận giám định đúng đắn, khách quan giúp cho  việc điều tra, truy tố, xét  xử  các vụ án được nghiêm

minh, đúng pháp luật, hạn chế oan sai; giám định tư pháp còn là biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo, người bị hại, các bên đương sự trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, góp phần quan trọng bảo đảm trật tự an toàn xã hội, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thi hành Pháp lệnh cho thấy, công tác giám định tư pháp đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, cần được khắc phụ sớm. Đội ngũ người giám định tư pháp còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Kết luận giám định tư pháp trong một số trường hợp chưa thực sự chính xác, khách quan; tình trạng mâu thuẫn, xung đột giữa các kết luận giám định không giảm, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiều vụ việc không lựa chọn được tổ chức, chuyên gia phù hợp để trưng cầu giám định hoặc tổ chức, cá nhân được trưng cầu từ chối thực hiện giám định, nhất là trong các lĩnh vực xây dựng, ngân hàng, tài chính, kế toán…, làm cho việc giải quyết một số vụ án, đặc biệt là một số vụ án tham nhũng lớn bị kéo dài. Những hạn chế, yếu kém của công tác giám định tư pháp trong một số lĩnh vực đang trở thành “điểm nghẽn” làm ách tắc nhiều hoạt động tố tụng. Nhận thức của một số ngành, địa phương về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động giám định tư pháp chưa đầy đủ, dẫn đến sự thiếu quan tâm, đầu tư cần thiết cho công tác này. Cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị của các tổ chức giám định, nhất là ở cấp tỉnh đa phần còn thiếu thốn, lạc hậu.

Một trong những nguyên nhân quan trọng của những hạn chế, bất cập kể trên là thể hế về giám định tư pháp chưa hoàn thiện. Các quy định về tổ chức, hoạt động, quản lý nhà nước về giám định tư pháp chưa đầy đủ, cụ thể và chưa đồng bộ; một số quy định của Pháp lệnh như phạm vi hoạt động giám định tư pháp, quy định về mô hình tổ chức giám định tư pháp, nhất là mô hình tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần… chưa đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới; chủ trương xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp còn thiếu các quy định cụ thể về điều kiện, giải pháp thực hiện; quy định về quản lý nhà nước còn sơ hở, lỏng lẻo, chưa làm rõ được cơ chế cộng đồng trách nhiệm của các Bộ, ngành chủ quản và cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về giám định tư pháp; còn thiếu các quy định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phối hợp với các Bộ, các ngành trong việc quản lý nhà nước về giám định tư pháp… dẫn đến việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về giám định tư pháp rất thiếu thông tin, bị cắt khúc và kém hiệu quả.

Để giải quyết trước mắt một số hạn chế, bất cập nêu trên, ngày 11 tháng 02 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 258/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” và ngày 25 tháng 10 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 1958/CT-TTg về một số giải pháp cấp bách nhằm tăng cường năng lực, hiệu quả hoạt động giám định tư pháp, trong đó xác định việc hoàn thiện thể chế về giám định tư pháp là yêu cầu cần phải quan tâm thực hiện sớm.

Trước yêu cầu thực tiễn của công tác giám định tư pháp và để tiếp tục thể chế hoá quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tạo cơ sở pháp lý vững chắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám định tư pháp, đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của hoạt động tố tụng và nhu cầu của xã hội, thì việc xây dựng, ban hành Luật Giám định tư pháp là rất cần thiết.

Mục đích ban hành và quan điểm chỉ đạo việc xây dựng dự án Luật Giám định tư pháp

1. Mục đích ban hành

Luật Giám định tư pháp được ban hành nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới mang tính đột phá, bền vững cho hoạt động giám định tư pháp ở nước ta, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động tố tụng mà trọng tâm là bảo đảm việc phán quyết của toà án được kịp thời, khách quan, đúng pháp luật.

2. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật

Luật Giám định tư pháp được xây dựng trên cơ sở 4 quan điểm chỉ đạo sau đây:

a) Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về giám định tư pháp theo hướng: Nhà nước tập trung đầu tư cho một số lĩnh vực giám định để đáp ứng yêu cầu thường xuyên của hoạt động tố tụng; sắp xếp, đổi mới hệ thống tổ chức pháp y, pháp y tâm thần; thực hiện xã hội hoá đối với các lĩnh vực có nhu cầu giám định không lớn, không thường xuyên, tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập; mở rộng phạm vi giám định tư pháp để tạo điều kiện cho các đương sự trong các vụ việc dân sự, vụ án hành chính chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, góp phần thực thi có hiệu quả chủ trương mở rộng dân chủ, tăng cường tranh tụng tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.

b) Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành Pháp lệnh Giám định tư pháp, kế thừa, phát triển các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh, nâng tầm các quy định có tính nguyên tắc trong các văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan thành quy định của Luật, đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước, thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.

c) Có chính sách tôn vinh và đãi ngộ để thu hút chuyên gia giỏi tham gia hoạt động giám định tư pháp, làm cơ sở cho việc xây dựng, kiện toàn đội ngũ giám định viên tư pháp, người làm giám định tư pháp có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, ngang tầm nhiệm vụ; quy định một số giải pháp nhằm tháo gỡ “điểm nghẽn” về thiếu người giám định, tổ chức chuyên môn làm giám định ở một số lĩnh vực giám định tư pháp.

d) Bảo đảm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, sự cộng đồng trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với các cơ quan tiến hành tố tụng về bảo đảm nhu cầu, sự đáp ứng kịp thời và chất lượng của hoạt động giám định tư pháp trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.

Bố cục của Luật Giám định tư pháp

Luật Giám định tư pháp gồm 8 chương, với 46 điều.

- Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 6)

Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức đối với hoạt động giám định tư pháp; chính sách của Nhà nước đối với hoạt động giám định tư pháp và các hành vi nghiêm cấm.

- Chương II: Giám định viên tư pháp (từ Điều 7 đến Điều 11)

Chương này quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm giám định viên tư pháp; hồ sơ đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp; thẩm quyền, trình tự, thủ tục bổ nhiệm giám định viên tư pháp; các trường hợp miễn nhiệm giám định viên tư pháp; hồ sơ miễn nhiệm giám định viên tư pháp; thẩm quyền, trình tự, thủ tục miễn nhiệm giám định viên tư pháp; quyền và nghĩa vụ của giám định viên tư pháp.

- Chương III: Tổ chức giám định tư pháp (từ Điều 12 đến Điều 17)

Chương này quy định về hệ thống tổ chức giám định tư pháp công lập; hình thức, tên gọi, điều kiện thành lập, việc cấp phép, đăng ký hoạt động của tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập.

- Chương IV: Người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc (từ Điều 18 đến Điều 20)

Chương này quy định về người giám định tư pháp theo vụ việc và tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; lập và công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc và tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

- Chương V: Hoạt động giám định (từ Điều 21đến Điều 35)

Chương này quy định về trưng cầu, yêu cầu giám định; quyền và nghĩa vụ của người trưng cầu giám định, của người yêu cầu giám định, của người giám định tư pháp khi thực hiện giám định, của tổ chức được trưng cầu, yêu cầu giám định; giao nhận hồ sơ, đối tượng giám định; giám định cá nhân, giám định tập thể; giám định bổ sung, giám định lại; hội đồng giám định; kết luận giám định tư pháp; hồ sơ giám định tư pháp; những trường hợp không được thực hiện giám định tư pháp; tương trợ tư pháp về giám định tư pháp.

- Chương VI: Chi phí giám định tư pháp, chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp (từ Điều 36 đến Điều 38).

Chương này quy định về chi phí giám định tư pháp; chế độ đối với người giám định tư pháp và người tham gia định tư pháp và chính sách đối với hoạt động giám định tư pháp.

- Chương VII: Trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với tổ chức, hoạt động giám định tư pháp (từ Điều 39 đến Điều 44).

Chương này quy định về cơ quan quản lý nhà nước về giám định tư pháp; nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý về lĩnh vực giám định tư pháp; nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; trách nhiệm của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

 - Chương VIII: Điều khoản thi hành (từ Điều 45 đến Điều 46)

Chương này quy định hiệu lực thi hành và quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan