Chat với luật sư Tư vấn miễn phí ngay

Một số quy định của pháp luật hiện hành trong việc tương trợ tư pháp về hình sự

Thứ ba, 31/01/2023, 17:00:35 (GMT+7)

Bài viết sau đây trình bày về một số quy định của pháp luật hiện hành trong việc tương trợ tư pháp về hình sự

MỤC LỤC

MỤC LỤC

Trong quá trình đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế thì tương trợ tư pháp nói chung và tương trợ tư pháp về hình sự nói riêng là một yêu cầu đòi hỏi hết sức khách quan, là một xu hướng tất yếu. Tương trợ tư pháp về hình sự góp phần đấu tranh phòng chóng tội phạm, thông qua tương trợ tư pháp góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó tương trợ tư pháp về hình sự cũng giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mỗi quốc gia. Bài viết sau đây của Luật Hoàng Anh sẽ trình bày một số quy định của pháp luật hiện hành về tương trợ tư pháp về hình sự.

Tương trợ tư pháp về hình sự là gì?

Tại các văn bản pháp luật hiện hành chưa đưa ra định nghĩa cụ thể về tương trợ tư pháp về hình sự, tuy nhiên có thể khái chung chung về tương trợ tư pháp về hình sự như sau:

Tương trợ tư pháp về hình sự là việc các quốc gia giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong việc điều tra, truy tố hoặc các thủ tục tố tụng khác trong các vấn đề về hình sự thông qua các cơ quan có thẩm quyền của mỗi quốc gia trên cơ sở điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương mà các quốc gia ký kết hoặc tham gia hoặc nguyên tắc “có đi có lại”.

Tống đạt giấy triệu tập người làm chứng, người giám định

Nhằm đảm bảo sự thống nhất, hiệu quả trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự, pháp luật hiện hành đã quy định cụ thể về phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự, trong đó tống đạt giấy triệu tập người làm chứng, người giám định cũng thuộc phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự. Điều 24 Luật Tương trợ tư pháp 2007 quy định về tống đạt giấy triệu tập người làm chứng, người giám định như sau:

- Nước yêu cầu muốn triệu tập người làm chứng, người giám định đang cư trú tại Việt Nam thì phải gửi giấy triệu tập cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao chậm nhất là chín mươi ngày, trước ngày dự định người đó phải có mặt tại nước yêu cầu. Thủ tục tiếp nhận giấy triệu tập người làm chứng, người giám định được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật này.

- Cơ quan thực hiện việc tống đạt giấy triệu tập phải gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản xác nhận đã tống đạt để Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển cho nước yêu cầu; trường hợp không tống đạt được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Quy định về cung cấp thông tin trong tương trợ tư pháp về hình sự

Điều 26 Luật Tương trợ tư pháp 2007 quy định về cung cấp thông tin trong hoạt động tương trợ tư pháp như sau:

Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam cung cấp các thông tin liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự hoặc bản sao bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với công dân của nước yêu cầu.

Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đóng vai trò quan trọng, là cấu nối giữa Việt Nam và nước ngoài trong hoạt động yêu cầu cung cấp thông tin này. Việc cung cấp các thông tin này bao gồm các thông tin liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự hoặc bản sao bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luậ đối với công dân của nước yêu cầu.

Quy định về sử dụng thông tin, chứng cứ trong tương trợ tư pháp về hình sự

Nhằm bảo đảo các thông tin, chứng cứ trong tương trợ tư pháp về hình sự thực hiện vào đúng mục đích, tuân thủ các quy định của pháp luật, Điều 27 Luật Tương trợ tư pháp 2007 quy định về việc sử dụng thông tin, chứng cứ trong tương trợ tư pháp về hình sự như sau:

Thứ nhất, thông tin, chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam cung cấp chỉ được sử dụng phù hợp với mục đích đã nêu trong ủy thác tư pháp về hình sự, không được tiết lộ hoặc chuyển giao, trừ trường hợp có sự đồng ý trước bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Thứ hai, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam phải áp dụng biện pháp thích hợp để giữ bí mật về ủy thác tư pháp về hình sự, nội dung ủy thác, tài liệu kèm theo, những hành vi tố tụng hình sự sẽ được tiến hành theo ủy thác tư pháp. Trong trường hợp không thể thực hiện được ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do và thoả thuận với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về các biện pháp thay thế, nếu có.

Thứ ba, khi ủy thác tư pháp về hình sự cho nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài áp dụng các biện pháp để:

+ Giữ bí mật thông tin, chứng cứ mà Việt Nam đã cung cấp và sử dụng thông tin, chứng cứ trong phạm vi cần thiết cho mục đích nêu trong yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự;

+ Bảo đảm thông tin, chứng cứ không bị sai lệch, thay đổi, tiết lộ trái phép hoặc các hành vi lạm dụng khác.

Quy định về yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự, giao hồ sơ, vật chứng của vụ án cho nước ngoài

Truy cứu trách nhiệm hình sự là buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện. Hay nói cách khác là áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự qua các giai đoạn từ khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đến điều tra, truy tố và xét xử để buộc người đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi ấy, tức là phải chịu hình phạt.

Điều 28 Luật Tương trợ tư pháp 2007 quy định về yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự, giao hồ sơ, vật chứng của vụ án cho nước ngoài như sau:

Thứ nhất, đối với vụ án có người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam mà người đó đã trốn ra nước ngoài và Việt Nam đã yêu cầu dẫn độ nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài từ chối việc dẫn độ thì cơ quan đang thụ lý vụ án chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao để yêu cầu nước nơi người phạm tội đang có mặt tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi quyết định chuyển giao hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể chuyển giao cả vật chứng của vụ án.

Thứ hai, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định các điều kiện cụ thể về tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án. Theo đó, tại Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT-VKSNDTC-TANDTC -BCA-BTP-BNG “Hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội”

Xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự công dân Việt Nam tại Việt Nam

Cơ quan có thẩm quyền xem xét yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài về việc tiếp tục truy cứ trách nhiệm hình sự đối với công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam thuộc về: Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu này được quy định tại  Điều 29 Luật Tương trợ tư pháp 2007 như sau:

- Trường hợp vụ án trong giai đoạn điều tra và thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh) thì chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nơi công dân Việt Nam cư trú cuối cùng trước khi ra nước ngoài để yêu cầu cơ quan điều tra cùng cấp tiến hành điều tra; đối với vụ án thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra Bộ Công an thì chuyển cho cơ quan điều tra Bộ Công an để tiến hành điều tra;

- Trường hợp vụ án trong giai đoạn truy tố và thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thì chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nơi công dân Việt Nam cư trú cuối cùng trước khi ra nước ngoài để tiến hành truy tố;

- Việc điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Thực hiện ủy thác tư pháp của nước ngoài về điều tra đối với công dân nước ngoài tại Việt Nam