Thế nào là thương binh loại B?

Thương binh loại B

“Thương binh loại B” là một khái niệm để chỉ một nhóm đối tượng thương binh được công nhận trước ngày 31/12/1993. Theo đó, đây là khái niệm chỉ nhóm được công nhận là thương binh trước năm 1994 (trước khi Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng số 36-L/CTN ngày 10/09/1994 được ban hành và có hiệu lực). Các khái niệm thương binh, bệnh binh được xác định chi tiết kể từ Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng số 36-L/CTN ngày 10/09/1994 trở về sau (Pháp lệnh ưu đĩa người có công với Cách mạng năm 2005, Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng năm 2012, Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng năm 2020).

Thương binh loại B cũng là nhóm được quy định về chế độ ưu đãi trong Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tiêu chuẩn, điều kiện thương binh loại B

Nhóm đối tượng

Thương binh loại B, giống như thương binh, là người hoạt động trong lực lượng vũ trang, bao gồm các nhóm sau:

- Quân nhân (có thể là quân nhân chuyên nghiệp, có thể là quân nhân nghĩa vụ)

- Công an nhân dân (có thể là công an chuyên nghiệp, công an nghĩa vụ,…)

Theo đó, mặc dù thương binh loại B cũng là nhóm đối tượng thuộc lực lượng vũ trang nhân dân nhưng lại bao gồm nhiều nhóm mà không thuộc “thương binh” như quân nhân nghĩa vụ, công an nghĩa vụ.

Có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 21% trở lên

Tỷ lệ tổn thương cơ thể được giám định bởi cơ quan, tổ chức thực hiện giám định. Mức độ tổn thương cơ thể là chứng minh cho khả năng sinh hoạt, lao động và đảm bảo khả năng sống. Với những người có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 21% trở lên, các hoạt động dựa trên chức năng cơ thể bị tổn thương giảm đi, dẫn đến các trường hợp không đủ khả năng tự sinh hoạt, lao động, do đó mới được công nhận là thương binh loại B.

Trường hợp được công nhận thương binh loại B

Thứ nhất, thương binh loại B phải là người bị thương trong thời gian tập luyện, công tác đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận. Theo đó, các trường hợp thương binh loại B không được quy định rõ, chi tiết như tiêu chuẩn đối với thương binh mà chỉ được xác định thông qua quá trình luyện tập, công tác dựa trên nhiệm vụ được giao phó bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Thứ hai, hoạt động công nhận phải được thực hiện trước ngày 31/12/1993. Sau ngày 31/12/1993, tiêu chuẩn thương binh cũng như chế độ đối với thương binh có sự thay đổi.

Xem thêm: Tổng hợp bài viết về Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Căn cứ cấp giấy báo tử đối với người mất tin, mất tích đủ điều kiện công nhận liệt sĩ như thế nào?

Chính sách xã hội 30/12/2021

Căn cứ cấp giấy báo tử đối với người mất tin, mất tích đủ điều kiện công nhận liệt sĩ

Điều kiện, tiêu chuẩn Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến như thế nào?

Chính sách xã hội 05/01/2022

Điều kiện, tiêu chuẩn Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến

Chế độ ưu đãi đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến như thế nào?

Chính sách xã hội 05/01/2022

Chế độ ưu đãi đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến

Chế độ ưu đãi đối với thân nhân của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến như thế nào?

Chính sách xã hội 05/01/2022

Chế độ ưu đãi đối với thân nhân của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến