Chat với luật sư Tư vấn miễn phí ngay

Quyền đối với giống cây trồng

Thứ ba, 06/06/2023, 10:44:39 (GMT+7)

bài viết sau đây trình bày về Quyền đối với giống cây trồng

MỤC LỤC

MỤC LỤC

Quyền đối với giống cây trồng là một trong những quyền liên quan đến sở hữu trí tuệ được nhà nước bảo hộ đối với tổ chức, cá nhân mà trong đó, đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch và quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu.

Nội dung bài viết dưới đây sẽ tập trung phân tích về quyền đối với giống cây trồng cũng như thủ tục đăng ký giống cây trồng theo quy định của pháp luật hiện hành. Hãy tham khảo nội dung bài viết này hoặc GỌI NGAY cho chúng tôi qua số điện thoại: 0908 308 123 để được LUẬT SƯ tư vấn MIỄN PHÍ và cung cấp dịch vụ đăng ký giống cây trồng NHANH – TRỌN GÓI – GIÁ RẺ.

Căn cứ pháp lý

- Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 (Luật Sở hữu trí tuệ 2005);

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ngày 19 tháng 6 năm 2009 (Luật Sở hữu trí tuệ 2009); 

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ngày 16 tháng 6 năm 2022 (Luật Sở hữu trí tuệ 2022)

- Thông tư số 16/2013/TT-BNNPTNT hướng dẫn bảo hộ quyền đối với giống cây trồng.

- Thông tư số 03/2021/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 6 năm 2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 16/2013/TT-BNNPTNT về hưỡng dẫn bảo hộ quyền đối với giống cây trồng.

Giống cây trồng là gì?

Căn cứ khoản 5 Điều 2 Luật Trồng trọt 2018 định nghĩa về giống cây trồng như sau: “Giống cây trồng là một quần thể cây trồng có thể phân biệt được với quần thể cây trồng khác thông qua sự biểu hiện của ít nhất là một đặc tính và di truyền được cho đời sau; đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống; có giá trị canh tác, giá trị sử dụng; bao gồm giống cây nông nghiệp, giống cây dược liệu, giống cây cảnh và giống nấm ăn.”

Theo đó, có thể hiểu giống cây trồng là một nhóm thực vật cùng loài, do con người chọn tạo ra, các các đặc điểm di truyền đồng nhất và ổn định. Vậy quyền đối với giống cây trồng là gì?

Quyền đối với giống cây trồng là gì?

Khoản 5 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về quyền đối với giống cây trồng như sau:  "Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu."

Quyền đối với giống cây trồng cũng căn bản là quyền tài sản mang tính vô hình của tổ chức, cá nhân hay chủ thể được bảo hộ quyền. Quyền đối với giống cây trồng gắn với giống cây trồng mới do chủ thể chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu.

Đặc điểm của quyền đối với giống cây trồng

Thứ nhất, quyền đối với giống cây trồng là quyền bô hình của tổ chức, cá nhân hay chủ thể được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng. Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền đối với giống cây trồng nói riêng với quyền sở hữu các loại tài sản vật chất hữu hình hay tài sản dân sự thông thường. Chủ thể được bảo hộ quyền đối với giống câu trồng khai thác quyền thông qua việc thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các hành vi cụ thể như: quyền sản xuất hoặc nhân giống cây trồng mới từ vật liệu nhân giống hoặc vật liệu thu hoạch của giống cây trồng được bảo hộ trong lĩnh vực quyền đối với giống cây trồng. 

Thứ hai, quyền đối với giống cây trồng gắn với giống cây trồng mới do chủ thể chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu. Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 16/2013/TT-BNNPTNT giải thích một số khái niệm sau:

- Chọn tạo giống cây trồng là quá trình lai hữu tính, gây đột biến hoặc áp dụng phương pháp khác để tạo các biến dị nhân tạo và chọn lọc tìm ra biến dị phù hợp với yêu cầu của sản xuất.

- Phát hiện giống cây trồng là hoạt động chọn lọc tìm ra biến dị tự nhiên có sẵn trong quần thể một giống cây trồng hoặc tìm ra nguồn gen mới có sẵn trong tự nhiên;

- Phát triển giống cây trồng là quá trình nhân và đánh giá để chọn ra biến dị hoặc nguồn gen phù hợp với yêu cầu của sản xuất. 

Việc xác lập quyền đối với giống cây trồng trên cơ sở hoàn tất thủ tục đăng ký bảo hộ giống cây trồng theo quy định của pháp luật là cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất xác định việc chủ bằng bảo hộ giống cây trồng được hưởng quyền sở hữu trong một thời hạn luật định đối với giống cây trồng đó.

Thứ ba, đối tượng bảo hộ quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch. Khoản 26, 27 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã quy định cụ thể về 02 khái niệm này. Theo đó:

- Vật liệu nhân giống là cây hoặc bộ phận của cây có khả năng phát triển thành một cây mới dùng để nhân giống hoặc để gieo trồng

- Vật liệu thu hoạch là cây hoặc bộ phận của cây thu được từ việc gieo trồng vật liệu nhân giống.

Điều kiện chung đối với giống cây trồng được bảo hộ

Căn cứ theo Điều 158 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 64 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định điều kiện chung đối với giống cây trồng được bảo hộ như sau: "Giống cây trồng được bảo hộ là giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển, có tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp."

Tính mới của giống cây trồng

Căn cứ theo Điều 159 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm k khoản 82 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định về tính mới đối với giống cây trồng được bảo hộ như sau:

Giống cây trồng được coi là có tính mới nếu vật liệu nhân giống hoặc sản phẩm thu hoạch của giống cây trồng đó chưa được người có quyền đăng ký này hoặc người được phép của người đó bán hoặc phân phối bằng cách khác nhằm mục đích khai thác giống cây trồng trên lãnh thổ Việt Nam trước ngày nộp đơn đăng ký một năm hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam trước ngày nộp đơn đăng ký sáu năm đối với giống cây trồng thuộc loài thân gỗ và cây leo thân gỗ, bốn năm đối với giống cây trồng khác.

Luật sở hữu trí tuệ 2022 đã sửa đổi cụm từ "cây nhỏ" thành "cây leo thân gỗ", sự sửa đổi này giúp bao quát được nhiều trường hợp hơn trong thực tiễn.

Bên cạnh đó, điều 6 Thông tư 16/2013/TT-BNNPTNT được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Thông tư 03/2021/TT-BNNPTNT quy định về tính mới của giống cây trồng như sau: Giống cây trồng được coi là không còn tính mới sau mười hai (12) tháng kể từ ngày được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam. Giống được phép sản xuất, kinh doanh gồm: giống đã được công nhận chính thức; giống có tên trong danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam; giống được cấp quyết định công nhận lưu hành hoặc công nhận lưu hành đặc cách; giống tự công bố lưu hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Cục Trồng trọt.

Tính khác biệt của giống cây trồng

Căn cứ theo Điều 160 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 19 Điều 1 Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 quy định tính khác biệt của giống cây trồng như sau:

- Giống cây trồng được coi là có tính khác biệt nếu có khả năng phân biệt rõ ràng với các giống cây trồng khác được biết đến rộng rãi tại thời điểm nộp đơn hoặc ngày ưu tiên nếu đơn được hưởng quyền ưu tiên.

- Giống cây trồng được biết đến rộng rãi là giống cây trồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Giống cây trồng mà vật liệu nhân giống hoặc vật liệu thu hoạch của giống đó được sử dụng một cách rộng rãi trên thị trường ở bất kỳ quốc gia nào tại thời điểm nộp đơn đăng ký bảo hộ;

+ Giống cây trồng đã được bảo hộ hoặc đưa vào Danh mục giống cây trồng ở bất kỳ quốc gia nào;

+ Giống cây trồng là đối tượng trong đơn đăng ký bảo hộ hoặc đơn đăng ký vào Danh mục giống cây trồng ở bất kỳ quốc gia nào, nếu các đơn này không bị từ chối.

Căn cứ vào quy định trên, có thể thấy khi có đơn yêu cầu bảo hộ giống cây trồng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận và xem xét đơn phải tiến hành đánh giá, xem xét giống cây trồng đó có đáp ứng điều kiện về tính khác biệt hay không. Hướng dẫn cho quy định này, khoản 1 Điều 6 Thông tư 16/2013/TT-BNNPTNT được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Thông tư 03/2021/TT-BNNPTNT quy định giống cây trồng được biết đến rộng rãi là giống cây trồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Giống cây trồng mà vật liệu nhân giống hoặc vật liệu thu hoạch của giống đó được sử dụng một cách rộng rãi trên thị trường Việt Nam hoặc ở bất kỳ quốc gia nào tại thời điểm nộp đơn đăng ký bảo hộ;

- Giống cây trồng được bảo hộ hoặc được công nhận lưu hành hoặc công nhận lưu hành đặc cách, tự công bố lưu hành, công nhận sản xuất thử, công nhận chính thức tại Việt Nam hoặc thuộc danh mục giống được phép sản xuất kinh doanh ở bất kỳ quốc gia nào;

- Giống cây trồng là đối tượng trong đơn đăng ký nhằm mục đích: bảo hộ giống cây trồng; công nhận lưu hành hoặc công nhận lưu hành đặc cách; danh mục giống ở bất kỳ quốc gia nào, nếu các đơn này không bị từ chối.

Nếu rơi vào bất kỳ trường hợp nào nêu trên thì giống cây trông được xem lại không thỏa mãn điều kiện về tính khác biệt.

Tính đồng nhất của giống cây trồng

Căn cứ theo Điều 161 Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định về tính đồng nhất đối với giống cây trồng được bảo hộ như sau: "Giống cây trồng được coi là có tính đồng nhất nếu có sự biểu hiện như nhau về các tính trạng liên quan, trừ những sai lệch trong phạm vi cho phép đối với một số tính trạng cụ thể trong quá trình nhân giống."

Quy định này gắn liền tính đồng nhất của giống cây trồng đối với trạng thái - hay sự biểu hiện như nhau của các tính trạng liên quan - xuất hiện trong quá trình hay trong thời gian nhân giống cây trồng. Về mặt thực tiễn, đánh giá điều kiện tính đồng nhất của giống cây trồng có yêu cầu bảo hộ chỉ có thể kết luận sau khi giống cây trông đã được tiến hành khảo nghiệm kĩ thuật (quy chuẩn quốc tế gọi tắt là khảo nghiệm DIS: Distinctness, Uniformity, Stability). 

Liên quan đến nội dung này, Điều 15 Nghị định 88/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về các hình thức khảo nghiệm kĩ thuật như sau:

"1. Khảo nghiệm kỹ thuật được thực hiện theo 1 trong 4 hình thức sau:

a) Khảo nghiệm kỹ thuật do tổ chức, cá nhân khảo nghiệm được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ định;

b) Khảo nghiệm kỹ thuật do người nộp đơn tự thực hiện;

c) Sử dụng kết quả khảo nghiệm kỹ thuật đã có do người nộp đơn cung cấp;

d) Hợp đồng với tổ chức, cá nhân của nước là thành viên UPOV để khảo nghiệm hoặc để mua kết quả khảo nghiệm đã có.

2. Cơ quan bảo hộ giống cây trồng căn cứ vào đơn đăng ký và điều kiện thực tế để lựa chọn một trong những hình thức khảo nghiệm kỹ thuật quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Trường hợp khảo nghiệm kỹ thuật tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam, phải theo quy phạm khảo nghiệm DUS do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành; trường hợp chưa ban hành thì theo quy phạm khảo nghiệm của UPOV.

4. Trường hợp thuộc điểm a khoản 1 Điều này, nếu kết quả khảo nghiệm chưa thỏa đáng, người nộp đơn có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân khảo nghiệm đã thực hiện khảo nghiệm trước đó hoặc tổ chức, cá nhân khảo nghiệm được chỉ định khác thực hiện khảo nghiệm lại và phải nộp phí khảo nghiệm lại theo quy định. Yêu cầu khảo nghiệm lại phải được làm bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do và chứng cứ chứng minh yêu cầu khảo nghiệm lại.

5. Phí khảo nghiệm quy định tại khoản 4 Điều này sẽ được trả lại cho người nộp đơn nếu kết quả khảo nghiệm lại cho thấy lý do và chứng cứ của người nộp đơn đưa ra là đúng."

Tính ổn định của giống cây trồng

Căn cứ theo Điều 162 Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định về tính ổn định đối với giống cây trồng được bảo hộ như sau: "Giống cây trồng được coi là có tính ổn định nếu các tính trạng liên quan của giống cây trồng đó vẫn giữ được các biểu hiện như mô tả ban đầu, không bị thay đổi sau mỗi vụ nhân giống hoặc sau mỗi chu kỳ nhân giống trong trường hợp nhân giống theo chu kỳ."

Tính ổn định được đánh giá thông qua tính đồng nhất với một giống đưuọc coi là ổn định khi chúng đồng nhất qua các vụ đánh giá, tuy rằng, trong trường hợp cần thiết, có thể tiến hành khảo nghiệm tính ổn định bằng việc trồng thế hệ tiếp theo hoặc trồng cây mới và giống có tính ổn định khi những biểu hiện của các tính trạng của chu kì sinh trưởng sau tương tự những biểu hiện của các tính trạng ở chu kì sinh trường trước. 

Tên của giống cây trồng

Căn cứ theo quy định tại Điều 163 Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a, b, c, d khoản 65 Điều 1 của Luật Sở hữu trí tuệ 2022 thì khi đặt tên cho giống cây trồng cần tuân thủ các quy định sau đây:

- Thứ nhất, tổ chức, cá nhân đăng ký quyền đối với giống cây trồng phải đề xuất một tên phù hợp cho giống cây trồng với cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng, tên đó phải trùng với tên đã đăng ký bảo hộ ở bất kỳ quốc gia thành viên nào của Hiệp hội quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới và quốc gia có ký kết thỏa thuận với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo hộ giống cây trồng. Khoản 3 Điều 163 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung tại điểm b,c khoản 65 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định trong các trường hợp sau đây tên của giống cây trồng được coi là không phủ hợp:

- Chỉ bao gồm các chữ số, trừ trường hợp chữ số liên quan đến đặc tính hoặc sự hình thành giống đó hoặc bao gồm cả tên loài của giống cây trồng đó; 

- Vi phạm đạo đức xã hội;

- Dễ gây hiểu nhầm về các đặc trưng, đặc tính, giá trị của giống đó. So với quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2022 đã bổ sung thêm cụm từ "giá trị" vào quy định này. 

- Dễ gây hiểu nhầm về danh tính của tác giả;

- Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày công bố đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng;

- Ảnh hưởng đến quyền đã có trước của tổ chức, cá nhân khác. 

- Tên của giống cây trồng được coi là phù hợp nếu tên đó có khả năng dễ dàng phân biệt được với tên của các giống cây trồng khác được biết đến rộng rãi trong cùng một loài hoặc loài tương tự. 

-  Tên của giống cây trồng không được coi là phù hợp trong các trường hợp sau đây:

+ Chỉ bao gồm các chữ số, trừ trường hợp chữ số liên quan đến đặc tính hoặc sự hình thành giống đó hoặc bao gồm cả tên loài của giống cây trồng đó; 

+ Vi phạm đạo đức xã hội;

+ Dễ gây hiểu nhầm về các đặc trưng, đặc tính, giá trị của giống đó;

+ Dễ gây hiểu nhầm về danh tính của tác giả;

+ Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày công bố đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng;

+  Ảnh hưởng đến quyền đã có trước của tổ chức, cá nhân khác.

- Tổ chức, cá nhân chào bán hoặc đưa ra thị trường vật liệu nhân giống của giống cây trồng phải sử dụng tên giống cây trồng như tên đã ghi trong bằng bảo hộ, kể cả sau khi kết thúc thời hạn bảo hộ.

- Khi tên giống cây trồng được kết hợp với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại hoặc các chỉ dẫn tương tự với tên giống cây trồng đã được đăng ký để chào bán hoặc đưa ra thị trường thì tên đó vẫn phải có khả năng nhận biết một cách dễ dàng.

- Trường hợp tên giống cây trồng đăng ký bảo hộ không phù hợp với các yêu cầu quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng từ chối tên đó và yêu cầu người đăng ký đề xuất tên khác trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày ban hành thông báo. Cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng ghi nhận tên chính thức của giống cây trồng từ thời điểm cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng. 

Bên cạnh đó, để đảm bảo tên của giống cây trồng được đặt một cách phù hợp, tuân thủ đầy đủ các quy định thì pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành cũng có quy định cụ thể về thẩm định tên giống cây trồng. Theo đó, Điều 13 Nghị định 88/2010/NĐ-CP ngày 16 tháng 8 năm 2010 quy định quy định về thẩm định tên giống cây trồng như sau:

Cơ quan bảo hộ giống cây trồng thẩm định sự phù hợp của tên giống cây trồng được đề xuất so với tên của các giống cây trồng cùng loài hoặc loài gần với loài của giống cây trồng đó đã được thừa nhận ở Việt Nam hoặc bất kỳ quốc gia nào có ký với Việt Nam thỏa thuận về bảo hộ quyền đối với giống cây trồng

Trường hợp tên giống cây trồng đăng ký bảo hộ không phù hợp theo quy định, cơ quan bảo hộ giống cây trồng thông báo cho người nộp đơn thay đổi tên giống cây trồng theo quy định. Trong thời hạn ba mươi (30) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan bảo hộ giống cây trồng, người nộp đơn phải đề xuất tên gọi mới của giống cây trồng phù hợp theo quy định. Quá thời hạn trên, người nộp đơn không đề xuất tên gọi mới phù hợp, cơ quan bảo hộ giống cây trồng có quyền từ chối đơn.

Trường hợp người nộp đơn muốn thay đổi tên giống cây trồng, trong thời gian từ khi nộp đơn đến trước khi cấp bằng bảo hộ, người nộp đơn phải đề nghị đổi tên giống đồng thời đề xuất tên mới cho giống cây trồng đã đăng ký và nộp lệ phí theo quy định.

Cơ quan bảo hộ giống cây trồng có trách nhiệm thông báo mọi thông tin liên quan đến tên giống cây trồng tới cơ quan có thẩm quyền của quốc gia có ký thỏa thuận với Việt Nam về bảo hộ quyền đối với giống cây trồng.

Tên chính thức của giống cây trồng là tên được thừa nhận tại thời điểm ban hành quyết định cấp bằng bảo hộ giống cây trồng.

Tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng

Căn cứ theo Điều 157 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 63 Điều 1 của Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng bao gồm:

- Tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng là tổ chức, cá nhân chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng hoặc đầu tư cho công tác chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng hoặc được chuyển giao quyền đối với giống cây trồng.

 - Tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài là công dân quốc gia thành viên Hiệp hội quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới hoặc quốc gia có ký kết với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thỏa thuận về bảo hộ giống cây trồng; cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại Việt Nam; tổ chức nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân thường trú hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng trên lãnh thổ của quốc gia thành viên Hiệp hội quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới. 

Nguyên tắc bảo hộ quyền đối với giống cây trồng

Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên

Theo Điều 166 Luật sở hữu trí tuệ 2005 nguyên tắc nộp đơn đầu tiên được quy định như sau:

Điều 166. Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên đối với giống cây trồng

1. Trường hợp có từ hai người trở lên độc lập nộp đơn đăng ký bảo hộ vào các ngày khác nhau cho cùng một giống cây trồng thì Bằng bảo hộ giống cây trồng chỉ có thể được cấp cho người đăng ký hợp lệ sớm nhất.

2. Trường hợp có nhiều đơn đăng ký bảo hộ cho cùng một giống cây trồng được nộp vào cùng một ngày thì Bằng bảo hộ giống cây trồng chỉ có thể được cấp cho người nào đứng tên nộp một đơn duy nhất theo sự thoả thuận của tất cả những người đăng ký; nếu những người đăng ký không thoả thuận được thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng sẽ xem xét để cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng trên cơ sở xác định người đầu tiên đã chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng đó.

Sáng tạo trí tuệ là quyền của mọi cá nhân, tổ chức đươc pháp luật sở hữu trí tuệ quy định. Việc cá nhân, tổ chức chọn tạo, nhân giống đều được có quyền nộp đơn xin bảo hộ giống cây trồng do mình tạo ra. Nhưng trên thực tế, có thể có thể có những trường hợp có đơn của nhiều chủ thể cùng yêu cầu bảo hộ cho một giống cây trồng. Trong trường hợp này, theo các nguyên tắc, bằng bảo hộ giống cây trồng chỉ được cấp cho một người đứng tên nộp đơn, theo sự thỏa thuận của tất cả những người đăng ký; nếu người đăng ký không thỏa thuận được thì cơ quan quản lý Nhà nước về quyền đối với giống cây trồng sẽ xem xét để cấp bằng bảo hộ giống cây trồng trên cơ sở xác định người nộp đơn đầu tiên đã chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng đó.

Nguyên tắc ưu tiên đối với đơn đăng ký bảo hộ