Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ nước Việt Nam là gì?

Một trong những vấn đề mà các nhà làm Luật đặt ra là áp dụng pháp luật theo hiệu lực không gian. Mà trong Luật xử lý vi phạm hành chính, hiệu lực không gian không chỉ dừng lại tại văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trong phạm vi cả nước là văn bản của cơ quan nhà nước trung ương và văn bản pháp luật có hiệu lực trong phạm vi từng địa phương là văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp. Mà còn quy định hiệu lực vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Điều 20, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định vấn đề này như sau:

Điều 20. Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Công dân, tổ chức Việt Nam vi phạm pháp luật hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật này.

Nội dung:

1. Đối tượng áp dụng

Công dân, tổ chức Việt Nam vi phạm pháp luật hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Vi phạm hành chính là loại vi phạm xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội. Mặc dù, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi thấp hơn tội phạm quy định trong Bộ Luật hình sự nhưng vi phạm hành chính vẫn gây thiệt hại hoặc đe dọa lớn đến lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng, là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu không được ngăn chạy, xử lý kịp thời. Khoản 1, Điều 2, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.”

Công dân, tổ chức Việt Nam bao gồm các cá nhân mang quốc tịch Việt Nam, thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam.

Điều 5, Luật Quốc tịch năm 2018 quy định quan hệ giữa Nhà nước và công dân gồm:

1. Người có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam.

2. Công dân Việt Nam được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm các quyền công dân và phải làm tròn các nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật.

3. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chính sách để công dân Việt Nam ở nước ngoài có điều kiện hưởng các quyền công dân và làm các nghĩa vụ công dân phù hợp với hoàn cảnh sống xa đất nước.

4. Quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đang định cư ở nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.

Như vậy, công dân Việt Nam ở nước ngoài được bảo hộ các quyền và lợi ích chính đáng của mình và do đó, họ phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam thì nhà nước mới có trách nhiệm bảo vệ cho họ

Việc vi phạm pháp luật hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngoài lãnh thổ Việt Nam không chỉ được hiểu là đối với người Việt Nam định cư tại nước ngoài mà còn hiểu là những cá nhân, tổ chức Việt Nam công tác ở nước ngoài khi vi phạm thì vẫn bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính nếu Việt Nam có quy định về xử phạt trong trường hợp ấy

2. Chế tài áp dụng

Việc áp dụng được thực hiện theo các Nghị định quy định các vấn đề đối với cá nhân, tổ chức vi phạm trong từng lĩnh vực cụ thể. Theo nguyên tắc áp dụng pháp luật, nguyên tắc quốc tịch thì công dân Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam ở bất cứ nơi nào, đồng thời phải tuân thủ pháp luật ở nước sở tại.

3. Cách thức áp dụng

Được áp dụng giống người Việt Nam vi phạm nếu hành vi đó đáp ứng đủ các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính, bao gồm:

3.1 Mặt khách quan

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm pháp luật. Nó bao gồm hành vi trái pháp luật, sự thiệt hại cho xã hội và quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại cho xã hội, thời gian, địa điểm, công cụ vi phạm. Trước hết phải xác định xem vụ việc vừa xảy ra có phải do hành vi của con người hay không, nếu phải thì hành vi đó có trái pháp luật không, nếu trái pháp luật thì trái như thế nào. Sự thiệt hại cho xã hội là những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần do hành vi trái pháp luật gây ra.

Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính là hành vi vi phạm hành chính. Nói một cách đơn giản, hành vi mà tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâm phạm đến nguyên tắc quản lý nhà nước, đã được pháp luật ngăn không cho thực hiện bằng cách quy định nó trong văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt hành chính. Theo đó, Nhà nước sẽ chỉ ra rằng, hành vi nào là không được làm, bị cấm thực hiện, khi vi phạm sẽ bị phạt như thế nào. Như vậy, khi xem xét, đánh giá hành vi của các tổ chức, cá nhân có phải vi phạm hành chính hay không đều phải xác định được hành vi đó vi phạm điều gì trong các văn bản quy phạm pháp luật, có căn cứ pháp lý rõ ràng.

Một lưu ý cần đặt ra rằng, cần tránh nguyên tắc suy đoán hoặc áp dụng tương tự pháp luật vì nguyên tắc chính chỉ đạo hoạt động của Luật xử lý vi phạm hành chính đó là “Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định”

Đối với một số loại vi phạm hành chính cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách quan có tính chất phức tạp hơn. Không đơn thuần chỉ có một dấu hiệu trái pháp luật mà còn có thể có nhiều yếu tố đi kèm khác như:

- Thời gian thực hiện hành vi vi phạm

- Địa điểm thực hiện hành vi vi phạm

- Công cụ phương tiện vi phạm

- Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Nhìn chung, hậu quả của vi phạm hành chính không nhất thiết phải là thiệt hại cụ thể. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, hành vi của cá nhân, tổ chức bị voi là vi phạm hành chính khi hành vi đó đã gây ra những thiệt hại cụ thể trên thực tế. Việc các định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính với thiệt hại cụ thể xảy ra là cần thiết để bảo đảm nguyên tắc cá nhân, tổ chức chỉ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do chính hành vi của mình gây ra.

3.2 Chủ thể

Chủ thể của vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý và đã thực hiện hành vi trái pháp luật. Mỗi loại vi phạm pháp luật đều có cơ cấu chủ thể riêng tùy thuộc vào mức độ xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chủ thể vi phạm hành chính phải là người không mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều chỉnh hành vi của mình, và trong độ tuổi pháp luật quy định:

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể vi phạm hành chính trong trường hợp thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Như vậy, chỉ khi nào họ thực hiện hành vi trái pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra. Hoặc thực hiện một hành vi trái pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn song có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra thì mới bị xử phạt hành chính.

- Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong mọi trường hợp

- Tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính bao gồm: Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật.

Cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng là chủ thể vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia có quy định khác. Trường hợp quy định tại điều 20 áp dụng với cả Công dân, tổ chức Việt Nam vi phạm pháp luật hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngoài lãnh thổ Việt Nam

3.3 Mặt chủ quan

Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật gồm lỗi, động cơ, mục đích vi phạm pháp luật:

Về cơ bản, dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính là dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm. Lỗi là một trạng thái tâm lý thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hậu quả xấu trong hành vi của mình. Lỗi chỉ là những gì được hình thành trong suy nghĩ, tâm trí của chủ thể vi phạm hành chính. Lỗi được chia thành hai loại: cố ý và vô ý

Đối với lỗi cố ý gồm:

- Lỗi cố ý trực tiếp: là lỗi của một chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.

- Lỗi cố ý gián tiếp: là lỗi của một chủ thể khi thực hiện một hành vi trái pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn song có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra.

Đối với lỗi vô ý gồm:

- Lỗi vô ý do cẩu thả :là lỗi của một chủ thể đã gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả đó, mặc dù có thể thấy trước và phải thấy trước hậu quả này.

- Lỗi vô ý vì quá tự tin: là lỗi của một chủ thể tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội song tin chắc rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc cỏ thể ngăn ngừa được nên mới thực hiện và có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

Khi có đủ căn cứ để cho rằng chủ thể thực hiện hành vi trong tình trạng không có khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi, chúng ta có thể kết luận rằng đã không có vi phạm hành chính xảy ra. Bởi họ không có lỗi, là những người gặp vấn đề trong nhận thức của mình được Tòa án công nhận hoặc có giấy chứng nhận của cơ quan Y tế.

Ngoài lỗi là dấu hiệu bắt buộc và quan trọng nhất thì ở một số trường hợp cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích hoặc động cơ. Theo đó:

- Động cơ là cái thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

- Mục đích là kết quả cuối cùng mà chủ thể vi phạm pháp luật mong đạt tới khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

3.4 Khách thể

Khách thể của vi phạm pháp luật là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi trái pháp luật xâm hại tới. Tính chất của khách thể vi phạm pháp luật cũng là một yếu tố đánh giá mức độ nguy hiểm trong hành vi trái pháp luật. Là một trong những căn cứ để phân loại hành vi vi phạm pháp luật.

Vi phạm hành chính cũng như mọi vi phạm pháp luật khác đều xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Dấu hiệu khách thể để nhận biết về vi phạm hành chính là hành vi vi phạm này đã xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ. Nói cách khác, vi phạm hành chính là hành vi trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như quy tắc về an toàn giao thông, quy tắc về an ninh trật tự, an toàn xã hội,… Điều đó đã được quy định trong các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Từ đó, dựa vào hành vi vi phạm, người có thẩm quyền sẽ áp dụng các trình tự, thủ tục theo Luật định. Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề này còn gặp nhiều bất cập với trường hợp này khó xử lý vi phạm và gặp nhiều hạn chế. Trong báo cáo tổng kết thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính số 09/BC-BTP thì kết quả triển khai cũng không đề cập đến điều này.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về pháp luật xử lý vi phạm hành chính

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Trách nhiệm đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã quy định về trách nhiệm đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính tại Điều 14, làm căn cứ để hoạt động này diễn ra hiệu quả hơn và nâng cao nghĩa vụ, trách nhiệm của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội

Khiếu nại trong xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Khoản 1, Điều 15, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về quyền khiếu nại trong lĩnh vực hành chính của cá nhân, tổ chức.

Khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Quy định về khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính được nêu rõ tại Khoản 1, Điều 15, Luật XLVPHC năm 2012: “Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính”

Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Khoản 2, Điều 15, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định về: “Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.”

Ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với trường hợp khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với trường hợp khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Khoản 3, Điều 15, Luật XLVPHC năm 2012

Trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là gì? (P4)

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Thi hành pháp luật hay thực thi pháp luật là một hệ thống mà một số thành viên của xã hội hành động theo một phong cách có tổ chức để thực thi pháp luật bằng cách khám phá, ngăn chặn, phục hồi, hoặc trừng phạt những người vi phạm luật lệ và các quy tắc

Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 bên cạnh quy định trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang bộ, của Ủy ban nhân dân và những tổ chức, cá nhân khác thì tại Điều 18, quy định về trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý VPHC

Giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

uy định giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Điều 19, Luật XLVPC năm 2012