Bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi?

Bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự mà bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu khi thực hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận, hoặc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế xảy ra trường hợp thiệt hại xảy ra là do lỗi của bên có quyền. Theo đó, Điều 363 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phậm có lỗi như sau:

Điều 363. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi
Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình”.

1.Quy định chung

-Thông thường, bồi thường thiệt hại là trách nhiệm của bên có nghĩa vụ (hay còn gọi là bên vi phạm) phải gánh chịu toàn bộ trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên có quyền (hay còn gọi là bên bị vi phạm), nhưng trên thực tế không phải lúc nào thiệt hại xảy ra cũng do hành vi của bên vi phạm. Trong một số trường hợp, thiệt hại đó có thể là do hành vi của bên có quyền. Về nguyên tắc, chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình và không ai phải gánh chịu trách nhiệm do hành vi của người khác gây ra. Vì vậy, điều luật này quy định trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình.

2.Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

-Trong trường hợp lỗi được xác định là lỗi hỗn hợp, tức hành vi vi phạm nghĩa vụ và gây thiệt hại xuất phát từ cả hai phía, thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường trong phạm vi nghĩa vụ của mình. Quy định này nhằm cân bằng lợi ích của các bên, đồng thời gắn trách nhiệm của các bên với hành vi của mình. Ví dụ: A thuê xe của B, A đã dặn dò B phải  kiểm tra xe cẩn thận trước khi giao cho A, nhưng B đã không làm khiến cho khi A đang di chuyển do đi quá tốc độ kèm theo phanh xe bị hỏng nên đã gặp tai nạn là chiếc xe bị hư hỏng nặng. Trong trường hợp này, lỗi xuất phát từ cả hai phía: với B là lỗi đã không kiểm tra xe cần thận trước khi giao cho A, còn với A là lỗi đã không lái xe cản thận. Do đó, A chỉ phải bồi thường thiệt hại cho chiếc xe trong phạm vi lỗi của mình. Mức bồi thường có thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định.
-Trong trường hợp toàn bộ lỗi đều thuộc bên có quyền, tức hành vi vi phạm và gây thiệt hại hoàn toàn do lỗi của bên có quyền, thì bên vi phạm nghĩa vụ không phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của bên có nghĩa vụ, trong trường hợp bên có quyền cố tình gây thiệt hại dể nhận bồi thường từ bên có nghĩa vụ. Theo đó, để chứng minh mình không có lỗi trong việc gây thiệt hại, bên có nghĩa vụ phải chứng minh được lỗi đó là do bên có quyền và được pháp luật công nhận. Khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015 quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”. Để đảm bảo tính thiện chí, trung thực của các bên khi tham gia xác lập giao dịch dân sự, pháp luật đã quy định chặt chẽ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi. Ví dụ: A thỏa thuận mua của B một tấn hàng đông lanh, hai bên đã thỏa thuận về thời gian, địa điểm giao hàng. Đén ngày giao hàng, B đã giao hàng đúng thời hạn vầ địa điểm mà hai bên đã thỏa thuận trước đó, nhưng A đã đến muộn. Trong thời gian đợi A, hàng đã bị hỏng một phần. Trường hợp này A là bên vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại, vì đã không đến nhận hàng đúng giờ, do đó, A phải chịu toàn bộ thiệt hại xảy ra, mà B không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho A.

3.Vụ việc thực tế xét xử trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của cả hai bên

Bản án số 27/2020/DS-ST ngày 26/05/2020 V/v đòi lại tài sản[1]

3.1.Nội dung vụ việc

Ông M,  bà Kh thống nhất với ông Nguyễn Văn Th ngày 21/10/2019 âm lịch nhằm ngày 17/11/2019 tiến hành lễ hỏi chị Nguyễn Thị Ch là con gái ông Th cho anh Võ Tấn T con trai bà Kh, trong lễ hỏi bà Kh có cho chị Ch 1 sợi dây chuyền 05 chỉ vàng 24kra, 1 chiếc lắc 03 chỉ 24kra, 1 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24kra và 1 chiếc nhẫn 05 phân vàng 24kra, ngoài ra phụ tiền trà nước 2.000.000 đồng và 5.000.000đồng tiền nạp tài. Bà Kh và ông Th thống nhất đám cưới ngày mùng 05, 06/11/2019 âm lịch, bên nhà gái đưa dâu qua 50 người. Sau đó bà Kh điện thoại báo ông Th do nhà cửa chật hẹp nên cho nhà gái qua 20 hoặc 30 người thì
nhà gái nói nhà trai nói tới nói lui nên hủy đám cưới. Nay yêu cầu ông Th và chị Ch trả lại 01 sợi dây chuyền 05 chỉ vàng 24kra, 01 chiếc lắc 03 chỉ vàng 24kra, 01 chiếc nhẫn 05 phân vàng 24kra và 5.000.000 đồng tiền nạp tài.

3.2.Quyết định của Tòa án

Nhận định củaTòa án:
-Bà Kh và ông Th thừa nhận khi bà Kh qua nhà ông Th thì hai bên gia đình có đến gặp cha vợ của ông Th hỏi ý kiến thì cha vợ ông Th có nói để hai đứa nhỏ có thời gian đến với nhau tức đi đến hôn nhân nhưng gia đình bà Kh và gia đình ông Th không chịu lắng nghe ý kiến để ngồi lại bàn bạc, thống nhất với nhau cụ thể nhà gái đưa dâu qua bao nhiêu người để bên gia đình bà Kh sắp xếp việc tiếp đãi cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của gia đình bên nhà trai. Ngược lại ông M, bà  Kh và ông Th không làm điều này đểdẫn đến hậu quả anh T và chị  Ch không tiến đến hôn nhân như đã dự định là hoàn toàn do lỗi của hai bên gia đình bà Kh và gia đình ông Th.
Căn cứ vào:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, 35, 39, khoản 1 Điều 228 BLTTDS năm 2015; Điều 166 BLDS năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị Kh, ông Võ Văn M đòi lại vàng; Bác 01 phần yêu cầu của bà Kh, ông M đòi lại vàng và số tiền.
-Buộc chị Nguyễn Thị Ch có nghĩa vụ trả cho ông M, bà Kh 04 chỉ 02 phân 05 ly vàng 24k.
-Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ch phải chịu 1.004.063 đồng án phí dân sự sơ thẩm; ông Võ Văn M, bà Nguyễn Thị Kh phải chịu 1.254.063 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 1.151.000 đồng tạm ứng án đã nộp phí theo biên lai số 0000796  ngày  11/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, nên ông M và bà Kh còn phải nộp tiếp 103.063 đồng án phí dân sự 7 sơ thẩm.

Luật Hoàng Anh

[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta570471t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 24/07/2021

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ

Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả

Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền

Hoãn thực hiện nghĩa vụ là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Khi không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền biết và đề nghị được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ

Chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ là hành vi của bên mang quyền

Nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/07/2021

Bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình

Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/07/2021

Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần

Lỗi trong trách nhiệm dân sự là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/07/2021

Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý.