Bồi thường thiệt hại trong xử lý hành chính là gì?

Trong dân sự, bồi thường thiệt hại hay còn hiểu là trách nhiệm bồi thường về vật chất. Đó là trách nhiệm bù đắp tổn thất về vật chất thực tế, được tính thành tiền do bên vi phạm nghĩa vụ gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chỉ phí để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút.

Đối với người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác, thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị thiệt hại.

Trong vi phạm hành chính cũng tương tự, không phải lúc nào cũng áp dụng quan hệ điều hành, quản lý mà xen lẫn trong đó là trách nhiệm dân sự nếu gây ra bồi thường thiệt hại. Đây là một trong những điều khoản được quy định tại Điều 13, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Nội dung:

1. Người vi phạm hành chính nếu gây ra thiệt hại thì phải bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh khi một người có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Pháp luật dân sự quy định: Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác (Điều 13, Bộ luật dân sự năm 2015) và Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại (Điều 170, Bộ luật dân sự năm 2015).

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng với khái niệm nghĩa vụ được quy định tại Điều 274 Bộ luật dân sự năm 2015: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật,chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).

Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ dân sự, trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Điều này xuất phát từ các hành vi bị cấm trong Điều 12, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Trong trường hợp này, có thể xác định được như sau:

- Về chủ thể: Chủ thể tham gia có thể là cá nhân, pháp nhân. Chủ thể bị thiệt hại (người có quyền) và chủ thể gây thiệt hại (người có nghĩa vụ) là các bên tham gia vào các quan hệ đó. Bên có quyền cũng như bên có nghĩa vụ có thể có một hoặc nhiều người tham gia. Nghĩa vụ hoặc quyền của họ có thể là liên đới, riêng rẽ hoặc theo phần tùy điều kiện, hoàn cảnh và đối tượng bị xâm hại.

- Về khách thể của quan hệ nghĩa vụ này luôn thể hiện dưới dạng “hành động” phải thực hiện hành vi “bồi thường” cho người bị thiệt hại. Cơ sở phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” cho các chủ thể khác. Đây là một trong các vấn đề của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà căn cứ của nó do pháp luật quy định xuất phát từ nguyên tắc chung của Hiến pháp (các quy định từ Điều 14 đến Điều 21 Hiến pháp năm 2013) và các nguyên tắc được quy định trong BLDS năm 2015 (Điều 3). Khoản 4 Điều 3 BLDS năm 2015 quy định: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Nguyên tắc được quy định trong điều luật này buộc các chủ thể “không được xâm phạm”, bởi vậy nếu “xâm phạm” sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế  với mục đích khắc phục những hậu quả về tài sản cũng như nhân thân do hành vi thiệt hại tạo ra.

Trong hành chính, bồi thường thiệt hại cũng mang đặc tính của trách nhiệm dân sự. Đó là trách nhiệm tài sản nhằm khôi phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng. Tuy nhiên, việc khôi phục tình trạng tài sản bằng biện pháp bồi thường thiệt hại của người gây ra thiệt hại không phải bao giờ cũng mang lại hậu quả như mong muốn. Vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau, người gây ra thiệt hại không thể bồi thường và người bị thiệt hại không thế “phục hồi lại tình trạng tài sản ban đầu” như trước khi bị thiệt hại. Bởi vậy, cần có các cơ sở và các hình thức khác để khắc phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hành chính không chỉ nhằm bảo đảm việc đền bù tổn thất đã gây ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đến những bất lợi về tài sản của người gây ra thiệt hại để bù đắp những thiệt hại mà họ đã gây ra cho các chủ thể khác, đặc biệt với các hành vi phạm tội với động cơ vụ lợi.

Điều 584 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, gồm:

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Như vậy, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi thỏa mãn các điều kiện nhất định, đó là:

Thứ nhất, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra.

Khoản 1 Điều 584 BLDS quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Chỉ cần có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã có thể phát sinh, bất kể hành vi đó là trái pháp luật hay không trái pháp luật. Mặc dù vậy, căn cứ trên quan điểm lập pháp trong các văn bản pháp luật trước đó, có thể nhận thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện cơ bản như: có thiệt hại xảy ra; có hành vi gây thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra; có lỗi của người thực hiện hành vi gây thiệt hại. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng cần phải có đầy đủ 4 điều kiện này thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới phát sinh, mà có những trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh ngay cả khi không có yếu tố lỗi.

Thứ hai, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.

Khoản 3 Điều 584 BLDS quy định: “Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”. Đây là lần đầu tiên, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra được tách biệt rạch ròi với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ra.

Khi tài sản gây thiệt hại mà không thuộc các trường hợp loại trừ thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, trong những trường hợp cụ thể xảy ra trên thực tế, khi giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, cơ quan có thẩm quyền cũng phải xác định các điều kiện cụ thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như: có thiệt hại xảy ra; có sự kiện tài sản gây ra thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của tài sản và thiệt hại xảy ra.

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, không nên coi lỗi là một trong các điều kiện phát sinh trách nhiệm, bởi về mặt lý luận, lỗi chỉ gắn với hành vi có ý thức của con người (hoạt động của tài sản không phải là hành vi có ý thức), nhưng điều này cũng không thể khẳng định khi tài sản gây thiệt hại, chủ sở hữu, người chiếm hữu không có lỗi, nhưng lỗi của họ chỉ là lỗi trong việc quản lý tài sản, nếu họ có lỗi trong việc sử dụng tài sản gây ra thiệt hại thì đó phải là hành vi gây ra thiệt hại chứ không phải tài sản gây thiệt hại (như hành vi phóng nhanh vượt ẩu gây ra tai nạn).

Thứ ba, căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng chung cho cả hành vi gây thiệt hại và tài sản gây thiệt hại.

Đây là cơ sở để xác định người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có được loại trừ trách nhiệm hay không. Trách nhiệm chứng minh các căn cứ loại trừ này thuộc về người phải BTTH.

Về vấn đề này chủ yếu áp dụng giữa người vi phạm hành chính và người bị thiệt hại từ hành vi hoặc tài sản của người vi phạm hành chính gây ra.

2. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Xuất phát từ quan hệ hành chính nhà nước là tính chênh lệch giữa các bên, một bên được nhà nước trao quyền song bên còn lại phải chấp hành các mệnh lệnh ấy. Tuy nhiên, để tránh cân bằng trong quan hệ, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước năm 2017 với phạm vi điều chỉnh là quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; thiệt hại được bồi thường; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; cơ quan giải quyết bồi thường; thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường; phục hồi danh dự; kinh phí bồi thường; trách nhiệm hoàn trả; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước.

Việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp này chỉ được xác định khi:

- Có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng:

  • Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật này và có yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự giải quyết yêu cầu bồi thường;
  • Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính đã xác định có hành vi trái pháp luật của người bị kiện là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và có yêu cầu bồi thường trước hoặc tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại;
  • Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự đã xác định có hành vi trái pháp luật của bị cáo là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự và có yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

- Có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật này;

- Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.

Như vậy, trong trường hợp này, đối với người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thì việc xác định trách nhiệm bồi thường cũng giống như quy định trong pháp luật dân sự hiện hành.

3. Lưu ý về việc bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp nhất định:

3.1 Đối với bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

Nếu một người có hành vi chống trả lại hành vi gây thiệt hại của người khác và hành vi chống trả lại này được coi là phòng vệ chính đáng thì hành vi chống trả đó không bị coi là hành vi trái pháp luật, do đó, người thực hiện hành vi chống trả không phải bồi thường thiệt hại. Điều 594 BLDS năm 2015 quy định: “Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại; Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại”.

Hành vi gây thiệt hại trong phạm vi yêu cầu của tình thế cấp thiết không phải là hành vi trái pháp luật, người thực hiện hành vi không bị coi là có lỗi. Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Với đặc điểm như sau:

- Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Người gây thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết chỉ phải bồi thường phần thiệt hại vượt quá yêu cầu.

- Phòng vệ chính đáng thì phải đáp ứng các điều kiện:

  • Có hành vi trái pháp luật, xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc xâm phạm tới lợi ích của chính bản thân người phòng vệ chính đáng;
  • Hành vi trái pháp luật của người khác đang gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho đối tượng bị xâm hại. Nếu thiệt hại đã xảy ra mà người bị thiệt hại mới có hành vi chống trả và gây thiệt hại ngược trở lại thì không thể coi là phòng vệ chính đáng;
  • Hành vi phòng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại (trước tiên là tính mạng, sức khỏe; trong những trường hợp nhất định có thể là tài sản của người có hành vi xâm phạm);
  • Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng phải là cần thiết và tương xứng với hành vi xâm hại, nếu không cần thiết hoặc không tương xứng thì người gây thiệt hại vẫn phải bồi thường thiệt hại.

3.2 Đối với bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

Theo quy định tại Điều 595 BLDS thì: “Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại; Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”.

BLDS không đưa ra khái niệm tình thế cấp thiết. Tuy nhiên, Điều 23 BLDS năm 2015 quy định: “1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Hành vì gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm; 2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Một hành vi chỉ được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và người gây thiệt hại không phải bồi thường thiệt hại khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

- Một nguy cơ thực tế đe dọa cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Tuy nhiên, tình thế cấp thiết chỉ là “nguy cơ” đe dọa gây thiệt hại nhưng thiệt hại chưa xảy ra. Do đó, bản thân người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải cân nhắc, tính toán về nguy cơ này. Nguy cơ gây thiệt hại với đối với lợi ích được pháp luật bảo vệ có thể xuất phát từ hành vi trái pháp luật của con người, tác động của thiên nhiên (bão, lũ lụt, hỏa hoạn…), súc vật tấn công..

- Nguy cơ phải có thực, tức là phải đang bắt đầu, đang diễn ra và chưa kết thúc. Nếu nguy cơ không có thực, đã xảy ra rồi thì không thể tồn tại tình thế cấp thiết.

- Nguy cơ đe dọa lợi ích được pháp luật bảo vệ, điều đó có nghĩa là những lợi ích này phải hợp pháp. Đối với các lợi ích không hợp pháp thì không thể viện dẫn gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết.

- Việc gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết là biện pháp tốt nhất để ngăn chặn thiệt hại có nguy cơ xảy ra. Trong khi có một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ, với các yếu tố khách quan và chủ quan thì bản thân người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không còn cách nào khác là phải gây thiệt hại cho một đối tượng khác.

- Thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải là thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Khi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết, bản thân người gây thiệt hại phải cân nhắc, tính toán giữa một bên là hậu quả có thể xảy ra cho đối tượng được pháp luật bảo vệ khi có nguy cơ đe dọa gây thiệt hại với thiệt hại mà mình sẽ gây ra trong tình thế cấp thiết. Do đó, chỉ coi là thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết nếu thiệt hại xảy ra là nhỏ hơn so với thiệt hại cần ngăn ngừa.

Như vậy, pháp luật dân sự chỉ quy định người gây ra tình thế cấp thiết phải bồi thường thiệt hại do tình thế cấp thiết gây ra (họ không phải bồi thường phần vượt quá vì phần này người gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết sẽ phải là người bồi thường), tuy nhiên nếu “nguy cơ đe dọa gây thiệt hại” – tức là tình thế cấp thiết không phải do con người gây ra (do thiên nhiên mang lại) thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với thiệt hại xảy ra trong tình thế cấp thiết không đặt ra mà phải coi là rủi ro mà bản thân người bị thiệt hại phải gánh chịu.

3.3 Về trường hợp bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra

Pháp luật nói chung, pháp luật dân sự nói riêng buộc con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó. Tuy nhiên, pháp luật cũng không buộc một người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình khi họ gây thiệt hại. Điều này không đồng nghĩa với việc trong mọi trường hợp pháp luật đều miễn trách nhiệm cho người thực hiện hành vi gây thiệt hại, Nếu người gây thiệt hại tự đặt mình vào tình trạng không nhận thức và làm chủ hành vi của mình thì họ phải chịu trách nhiệm về hậu quả của hành vi đó. Đây chính là trường hợp người dùng chất kích thích (rượu, bia…) gây thiệt hại.

Điều 596 BLDS quy định: “1.Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường; 2. Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”.

Mặc dù người uống rượu hoặc dùng chất kích thích khác gây thiệt hại trong tình trạng không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, tức là tại thời điểm đó họ không có nhận thức về hành vi và hậu quả của hành vi mà mình thực hiện. Tuy nhiên, trước khi uống rượu hoặc dùng các chất kích thích, bản thân họ có nhận thức về việc sử dụng chất kích thích cũng như hậu quả của việc sử dụng chất kích thích, nên bản thân họ bị coi là cói lỗi đã để mình rơi vào tình trạng không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Do đó, việc buộc người dùng chất kích thích gây thiệt hại phải bồi thường là hoàn toàn phù hợp với căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Khoản 1, Điều 585 BLDS.

Nếu một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Người cố ý được đề cập trong trường hợp này phải cố ý cả về ý chí và hành vi, tức là bản thân họ mong muốn người khác sử dụng chất kích thích và và sử dụng mọi cách thức để có thể đưa chất kích thích vào cơ thể người khác, làm cho người đó không thể phản kháng.

3.4 Về trường hợp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:

Điều 601 BLDS năm 2015 đã đưa ra khái niệm về nguồn nguy hiểm cao độ: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”.

Khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể là chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản, cụ thể:

- Trách nhiệm của chủ sở hữu:

  • Chủ sở hữu là người được thực hiện các quyền năng đối với tài sản, trong đó có quyền khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Trách nhiệm của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ xuất phát từ việc chủ sở hữu được hưởng lợi ích mà tài sản mang lại, bất kể trong việc quản lý nguồn nguy hiểm cao độ, chủ sở hữu có lỗi hay không có lỗi.
  • Chủ sở hữu có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngay cả khi không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng tài sản. Đó là các trường hợp: chủ sở hữu giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng để phục vụ cho lợi ích của chính mình (công ty chịu trách nhiệm bồi thường do xe ô tô mà nhân viên lái gây ra tai nạn); chủ sở hữu cho người khác thuê, cho mượn nhưng có thỏa thuận với người về việc chủ sở hữu chịu trách nhiệm bồi thường khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại; chủ sở hữu có lỗi để cho nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật.

- Trách nhiệm của người được giao chiếm hữu, sử dụng:

  • Người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có thể là người được giao thông qua một giao dịch dân sự, hoặc có thể thông qua một quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, quyết định của người sử dụng lao động. Người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi trong việc chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ.

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ:

  • Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ là những người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không thông qua việc được chuyển giao và không thuộc các trường hợp chiếm hữu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
  •  Khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, họ phải chịu trách nhiệm bồi thường và cơ sở xác định trách nhiệm của họ luôn xuất phát từ sự vi phạm, ngay cả khi nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại mà họ quản lý nghiêm ngặt thì họ vẫn bị coi là vi phạm, bởi vì sự vi phạm này xảy ra ngay khi họ chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ của người khác.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về pháp luật xử lý vi phạm hành chính

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Khoản 8, Điều 12, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính là hành vi bị cấm

Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Khoản 10, Điều 12, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính là một trong các hành vi bị cấm

Chống đối, trốn tránh, trì hoãn hoặc cản trở chấp hành trong xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Khoản 12, Điều 12, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định hành vi Chống đối, trốn tránh, trì hoãn hoặc cản trở chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý,… là hành vi bị cấm

Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm trong xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Khoản 11, Điều 12, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị xử phạt vi phạm hành chính, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính,… là một hành vi bị cấm