Các hình thức xử phạt và nguyên tắc áp dụng trong xử lý vi phạm hành chính là gì?

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 ra đời, được sửa đổi và bổ sung vào năm 2020 là một văn bản pháp lý quan trọng quy định những quy tắc xử sự chung trong việc xử phạt hành chính và các biện pháp áp dụng cụ thể. Theo đó, tại điều 21 quy định, có 05 hình thức xử phạt chính và 03 hình thức xử phạt bổ sung. Cụ thể như sau:

Điều 21. Các hình thức xử phạt và nguyên tắc áp dụng

1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính);

đ) Trục xuất.

2. Hình thức xử phạt quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính.

Hình thức xử phạt quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính.

3.[20] Mỗi vi phạm hành chính được quy định một hình thức xử phạt chính, có thể quy định một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung kèm theo.

Hình thức xử phạt bổ sung được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật này.

Nội dung:

1. Các hình thức xử phạt trong xử phạt vi phạm hành chính

Hình thức xử phạt chính thể hiện thái độ chính thức của Nhà nước đối với hành vi vi phạm, do vậy pháp luật quy định mỗi vi phạm hành chính chỉ gánh chịu một hình thức xử phạt chính, trong khi đó việc quy định hình thức xử phạt bổ sung là nhằm thực hiện chức năng hỗ trợ cho hình thức xử phạt chính, là biện pháp pháp lý để giúp cho việc xử phạt được chính xác, đồng thời giúp các cơ quan áp dụng pháp luật áp dụng các biện pháp loại bỏ những điều kiện mà cá nhân, tổ chức vi phạm có thể sử dụng để tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm. Chức năng này của hình thức xử phạt bổ sung sẽ giúp hình thức xử phạt chính đạt được mục đích phòng ngừa riêng bằng việc ngăn ngừa người vi phạm tiếp tục thực hiện vi phạm hành chính. Do vậy, về nguyên tắc áp dụng, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định đối với mỗi vi phạm hành chính, người có thẩm quyền chỉ có thể áp dụng một hình thức xử phạt chính, trong khi đó có thể áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung khác nhau

1.1 Hình thức xử phạt cảnh cáo

Cảnh cáo hành chính là hình phạt luôn đứng đầu nhất tương ứng với hình phạt nhẹ nhất, nhắc nhở và khiển trách công khai của pháp luật đối với cá nhân, tổ chức khi vi phạm liên quan đến các lỗi nhẹ, mang tính chất không nghiêm trọng. Tức là khi vi phạm liên quan đến lĩnh vực này, hành vi đó không gây ảnh hưởng trên diện rộng, với nhiều người và có thể sửa sai được.

Đây là một trong những hình thức xử phạt chính mà trong đó, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản

1.2 Hình thức xử phạt tiền

Có thể nói, phạt tiền là hình thức áp dụng phổ biến nhất và mang tính răn đe đối với các chủ thể vi phạm. phạt tiền không chỉ tác động đến lợi ích (kinh tế) của người vi phạm mà còn có tác động đến yếu tố tinh thần, nhận thức của người vi phạm; khi mà hành vi không tốt, sai trái bị xã hội, cộng đồng phê phán.

Giống với cảnh cáo, phạt tiền được xem là hình thức xử phạt chính. Mặc dù phạt tiền chủ yếu nhằm tác động đến cá nhân, tổ chức để các chủ thể này không thực hiện hành vi vi phạm; với mức độ nghiêm khắc của chế tài thấp hơn các chế tài trong pháp luật hình sự. Tuy nhiên, không vì thế mà tính chất răn đe của hình thức phạt tiền bị xem nhẹ. Tiền là động lực chính và một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Mục đích chính của việc phạt tiền là tạo lập khả năng tránh tái diễn hành vi vi phạm của cá nhân, tổ chức và hàm ý không khuyến khích cá nhân, tổ chức khác thực hiện hành vi tương tự, với cơ chế thúc đẩy tâm lý “sợ bị phạt”; tâm lý đó sẽ làm cho các cá nhân kiểm soát tốt hành vi của mình cũng như đưa ra những lựa chọn thực hiện hành vi hợp pháp hoặc thậm chí là cá nhân có thể vẫn cố tình thực hiện hành vi nhưng sẽ có sự cân nhắc, tiết chế nhằm giảm thiểu mức độ sai phạm; nhờ đó mà nâng cao tính tuân thủ pháp luật tốt hơn.

Để áp dụng hình thức xử phạt tiền mang tính áp dụng ngày cảng hiệu quả hơn, cần đảm bảo được các yếu tố sau:

Thứ nhất, mức tiền phạt đối với những vi phạm hành chính, nhất là vi phạm hành chính phổ biến cần phải được truyền tải đến đông đảo cá nhân, tổ chức trong xã hội; phải gây ảnh hưởng và tạo được suy nghĩ cho người dân rằng: nếu thực hiện vi phạm hành chính đó thì sẽ bị thiệt nhiều hơn là được lợi. Việc đánh vào tâm lý sẽ làm cho người dân nhận thức được việc vi phạm sẽ gây ra thiệt hại kinh tế không đáng có mà đáng lẽ ra họ không nên vi phạm để nhận được chế tài ấy.

Thứ hai, mức tiền phạt phải đủ “mạnh” với đa số các cá nhân, tổ chức vi phạm; tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội tại một thời điểm nhất định. Xã hội là một sự phân tầng của nhiều tầng lớp khác nhau, mặc dù Nhà nước tạo mọi điều kiện để người dân phát triển công bằng song không phải không tồn tại sự chênh lệch giàu nghèo. Do đó, mức phạt tiền phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội

Thứ ba, tính răn đe của hình thức phạt tiền chỉ được củng cố tốt hơn khi vi phạm hành chính được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh, công bằng. Điều này cần đảm bảo dựa trên các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình để đảm bảo tính công bằng, khách quan khi xử phạt vi phạm hành chính

1.3 Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

Điểm c, Khoản 1. Điều 21 và Khoản 1, Điều 25 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 chi tiết về vấn đề này. Theo đó, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề và được xem vừa là hình thức xử phạt chính, vừa là hình thức xử phạt bổ sung áp dụng kèm theo xử phạt cảnh cáo hoặc xử phạt tiền.

Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Hình thức tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn có thể được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính (không đi kèm cùng hình thức phạt tiền) hoặc hình thức xử phạt bổ sung, trường hợp được quy định là hình thức xử phạt bổ sung thì chỉ được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính (thông thường được quy định cùng với hình thức phạt tiền với mức phạt tiền tương đối cao).

Biện pháp thu hồi giấy phép, chứng chỉ hành nghề được quy định tại Khoản, Điều 80 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, theo đó: “Trường hợp phát hiện giấy phép, chứng chỉ hành nghề được cấp không đúng thẩm quyền hoặc có nội dung trái pháp luật thì người có thẩm quyền xử phạt phải tiến hành thu hồi ngay theo thẩm quyền, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó biết; trường hợp không thuộc thẩm quyền thu hồi thì phải báo cáo với cơ quan có thẩm quyền để xử lý”.

1.4 Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính);

Đây vừa là hình thức xử phạt chính, vừa là hình thức xử phạt bổ sung kèm theo hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc xử phạt tiền. Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là một trong những hình thức xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức. Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính.

1.5 Hình thức xử phạt trục xuất.

Đây được xem là một biện pháp xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của người nước ngoài, người không quốc tịch được cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện và xử lý bằng cách loại bỏ những người này ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trục xuất còn thể hiện bản chất của Nhà nước khi nó mang tính cưỡng chế thi hành đối với những đối tượng bị áp dụng hình phạt.

Như vậy, từ các quy định trên, có thể thấy rằng, việc quy định đa dạng các hình thức xử phạt nhằm nâng cao sự chủ động của người có thẩm quyền xử phạt và bảo đảm hình thức xử phạt được áp dụng thống nhất, công bằng và phù hợp với tính chất, mức độ của mỗi hành vi vi phạm.

Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính là phương tiện để bảo đảm cho các quy định của pháp luật về hành chính có thể thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ các quy tắc, trật tự xã hội, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật. Việc áp dụng các hình thức xử phạt đối với chủ thể thực hiện vi phạm hành chính hướng đến nhiều mục đích như trừng trị, răn đe, giáo dục đối với người vi phạm hoặc ngăn chặn, phòng chống người vi phạm tiếp tục thực hiện vi phạm trong tương lai.

2. Nguyên tắc áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính

2.1 Mỗi vi phạm hành chính được quy định một hình thức xử phạt chính, có thể quy định một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung kèm theo

Như vậy, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã quy định chỉ có 02 hình thức xử phạt chính, đó là: Xử phạt tiền và xử phạt cảnh cáo.

Trong đó, hình thức xử phạt chính là loại hình thức xử phạt được áp dụng chính cho hành vi vi phạm, với mỗi vi phạm hành chính có thể áp dụng một hình thức xử phạt chính độc lập mà không nhất thiết phải áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung kèm theo, hay nói cách khác, khi xử phạt người có thẩm quyền chỉ cần áp dụng một hình thức xử phạt chính là đủ để ban hành quyết định xử phạt.

Có những hành vi chỉ cần hình thức xử phạt chính bởi hành vi của họ không phát sinh thêm một hậu quả nào đó buộc phải có một biện pháp để khắc phục.

2.2 Hình thức xử phạt bổ sung được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật này

Khoản 2, Điều 65, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 quy định:

Điều 65. Những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1. Không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong những trường hợp sau đây:

a) Trường hợp quy định tại Điều 11 của Luật này;

b) Không xác định được đối tượng vi phạm hành chính;

c) Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 6 hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật này;

d) Cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt;

đ) Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Điều 62 của Luật này.

2.[120] Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc tang vật, phương tiện mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tịch thu và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với hành vi vi phạm hành chính đó.

Quyết định phải ghi rõ lý do không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng, trách nhiệm và thời hạn thực hiện.

Việc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản này không bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính.

Điềy này được hiểu là trong một trường hợp thông thường, hình thức xử phạt bổ sung không thể áp dụng độc lập mà phải áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính. Tức là với hình thức xử phạt chính thì đã đủ để đưa ra quyết định xử phạt. Tuy nhiên, có những hành vi khi vi phạm, để lại hậu quả gây ảnh hưởng cho xã hội, mà có thể khắc phục được trong một phạm vi nhất định, thì sẽ có hình thức xử phạt bổ sung kèm theo.

Bên cạnh đó, nếu áp dụng với tư cách là hình thức xử phạt bổ sung thì các hình thức xử phạt đó sẽ không thể áp dụng độc lập mà phải đi kèm với một hình thức xử phạt chính. Nếu người có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt chỉ có hình thức xử phạt bổ sung mà không có hình thức xử phạt chính thì quyết định xử phạt sẽ không bảo đảm tính hợp pháp.

Chỉ có trường hợp ngoại lệ đó là Khoản 2, Điều 65 quy định trường hợp đặc biệt không thể áp dụng hình thức xử phạt chính hoặc việc áp dụng hình thức xử phạt chính không có ý nghĩa) như vì trong trường hợp này không thể ban hành quyết định xử phạt thì hình thức xử phạt bổ sung không cần áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính mà có thể áp dụng độc lập.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về pháp luật xử lý vi phạm hành chính

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là gì? (P1)

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Điều 17, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, cụ thể như sau:

Trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là gì? (P2)

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây

Trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là gì? (P3)

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các bộ, ngành có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều này; kịp thời cung cấp thông tin cho Bộ Tư pháp về XLVPHC để xây dựng CSDL quốc gia

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là gì?

Hỏi đáp luật Đất đai 22/07/2021

Bài viết trình bày các quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là gì? (P4)

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Thi hành pháp luật hay thực thi pháp luật là một hệ thống mà một số thành viên của xã hội hành động theo một phong cách có tổ chức để thực thi pháp luật bằng cách khám phá, ngăn chặn, phục hồi, hoặc trừng phạt những người vi phạm luật lệ và các quy tắc

Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 bên cạnh quy định trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang bộ, của Ủy ban nhân dân và những tổ chức, cá nhân khác thì tại Điều 18, quy định về trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý VPHC

Giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

uy định giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Điều 19, Luật XLVPC năm 2012

Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ nước Việt Nam là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Điều 20, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam