Các nguyên tắc cơ bản trong áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là gì?

Trong lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nguyên tắc cơ bản của pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, mang tính xuất phát điểm, định hướng, chịu sự quy định của những quy luật khách quan của xã hội, xuyên suốt nội dung, hình thức pháp luật, toàn bộ thực tiễn pháp luật, hoạt động xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, hành vi pháp luật, ý thức pháp luật.

Từ đó, chúng ta thấy rằng, nguyên tắc cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành được hiểu là hệ thống các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và xuyên trong quá trình xử lý hành chính, gồm cả quá trình xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Có 10 nguyên tắc cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính với 06 nguyên tắc khi xử phạt vi phạm và 04 nguyên tắc khi áp dụng biện pháp xử lý. Chúng có mối liên hệ qua lại, mật thiết với nhau nhưng từng nguyên tắc cụ thể có sự thể hiện, cụ thể hóa với những mức độ, phạm vi khác nhau trong từng lĩnh vực điều chỉnh cụ thể của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Khoản 2, Điều 3, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về 04 nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, sẽ được Luật Hoàng Anh giải đáp trong bài viết dưới đây!

1. Nguyên tắc cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng quy định

Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Như vậy, hiểu một cách đơn giản thì biện pháp xử lý hành chính là biện pháp tước hoặc hạn chế tự do do cơ quan hành chính quyết định áp dụng đối với cá nhân chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo trình tự, thủ tục hành chính nhằm đích giáo dục và răn đe. Do đó, chỉ được áp dụng đối với những đối tượng sau:

a. Đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

- Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép.

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chiếm giữ trái phép tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép nhưng không phải là tội phạm.

- Người từ đủ 14 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Người từ đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chiếm giữ trái phép tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép, ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình nhưng không phải là tội phạm.

- Người quy định sau và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mà không có nơi cư trú ổn định thì được giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em để quản lý, giáo dục trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

  • Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.
  • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.
  • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép.
  • Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi

- Người từ đủ 18 tuổi trở lên quy định tại khoản 5 Điều này mà không có nơi cư trú ổn định thì giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần thứ ba tổ chức quản lý.

b. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

- Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự.

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự, trừ những tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự.

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định sau và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

  • Thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.
  • Hành vi gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép.

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định sau nhưng không phải là tội phạm và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

  • Xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
  • Chiếm giữ trái phép tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác
  • Gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép nhưng không phải là tội phạm.

- Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với các trường hợp sau đây:

  • Người không có năng lực trách nhiệm hành chính
  • Người đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên
  • Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

c.  Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc

- Người từ đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi quy định sau nhưng không phải là tội phạm và không có nơi cư trú ổn định:

  • Xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
  • Chiếm giữ trái phép tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác
  • Gây rối trật tự công cộng
  • Trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép
  • Ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình nhưng không phải là tội phạm.

- Người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện một trong các hành vi quy định sau nhưng không phải là tội phạm và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

  • Xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
  • Chiếm giữ trái phép tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác
  • Gây rối trật tự công cộng
  • Trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép
  • Ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình nhưng không phải là tội phạm.

- Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:

  • Người không có năng lực trách nhiệm hành chính
  • Người chưa đủ 18 tuổi
  • Nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi
  • Người đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên
  • Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

d. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

- Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.

- Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:

  • Người không có năng lực trách nhiệm hành chính
  • Người đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên
  • Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Việc cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng quy định là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động này bởi bản chất của biện pháp xử lý hành chính mang tính đặc thù, hạn chế một phần quyền tự do của con người nhưng Nhà nước đặt ra với hy vọng họ có khả năng khắc phục lỗi lầm và trở thành công dân tốt cho xã hội. Vì vậy, cần phải quy định chặt chẽ đối tượng áp dụng vì phạm vi áp dụng hẹp hơn các hình thức xử phạt vi phạm hành chính nói chung.

2. Nguyên tắc việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật

Nguyên tắc việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo nhằm đảm bảo cho việc xử phạt hành chính được đảm bảo nhanh chóng, công khai, khách quan, công bằng, đúng quy định; vừa bảo đảm tính hiệu quả của thực thi pháp luật cũng như thể hiện tính răn đe của Nhà nước trong xử phạt vi phạm hành chính.

Nguyên tắc này giống với áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, do vậy, nguyên tắc này được biểu hiện ở những yếu tố sau:

- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chịu quyết định; hành vi vi phạm pháp luật của người đó; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng; thời hạn áp dụng; ngày thi hành quyết định; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình,… hoặc quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp xử lý cũng phải tuân thủ nguyên tắc trên

- Các quy định về khám người, khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, khám phương tiện vận tải cũng chú ý đến việc công bố quyết định khám, có người chứng kiến, lập biên bản về việc khác

- Công khai giúp cho việc kiểm soát dễ dàng nên sẽ hạn chế sai phạm trong xử phạt vi phạm hành chính, còn khách quan thì bảo đảm xử phạt chính xác, đúng người, đúng vi phạm.

Bên cạnh đó, áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính là hoạt động sử dụng quyền lực nhà nước để áp dụng các biện pháp đã được quy định đối với người vi phạm nên chỉ người có thẩm quyền mới có quyền xử lý vi phạm hành chính và chỉ được xử phạt trong giới hạn thẩm quyền pháp luật quy định. Đây là một trong các đặc trưng trong quan hệ hành chính nhà nước, thể hiện tính chênh lệch trong quan hệ giữa các bên. Do đó cần phải đảm bảo công bằng, đúng quy định, có chứng cứ cũng như tránh sự lạm quyền của cơ quan chức năng thực hiện quyền lực Nhà nước.

3. Nguyên tắc việc quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng.

Nguyên tắc này cũng là một trong các nguyên tắc được áp dụng cho các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy,

Bất cứ hành vi áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính nào ít nhiều cũng có tính nguy hiểm cho xã hội và tùy theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà pháp luật quy định hình thức, mức phạt phù hợp. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm hành chính tùy thuộc vào nhiều yếu tố như bản thân hành vi đó là hành vi gì, mức độ nghiêm trọng của hậu quả gây ra, người vi phạm là ai, thực hiện hành vi vi phạm trong điều kiện hoàn cảnh nào…

Khi thi hành công vụ cán bộ, công chức thiết lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính và người có thẩm quyền xử phạt tự mình phát hiện vụ việc có dấu hiệu vi phạm hoặc tiếp nhận được thông tin vụ việc vi phạm từ các nguồn khác nhau: tin báo, điện thoại, đơn tố cáo hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ,…

Việc xác định là vi phạm hành chính hay hình sự cán bộ, công chức thiết lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính và người có thẩm quyền xử phạt cần đánh giá hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi gì, diễn biến thực tế như thế nào, tính chất và mức độ của hành vi đến đâu, liên quan đến lĩnh vực nào, quy định pháp luật có liên quan. Việc phân biệt giữa hành vi vi phạm hành chính hay hình sự cần dựa vào một số đặc điểm sau: Căn cứ pháp lý quy định về hành vi vi phạm và biện pháp xử lý; chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, khách thể, chủ quan, khách quan và thủ tục xử lý.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm sẽ tạo thuận lợi cho việc xác định được hình phạt tương ứng quy định trong từng lĩnh vực cụ thể. Ví dụ như đối với hành vi có hậu quả nguy hiểm cho xã hội nặng hơn thì chịu chế tài nặng hơn nhưng thêm yếu tố về chủ thể vi phạm người chưa thành niên vi phạm hoặc người thành niên vi phạm thì câu chuyện lại rẽ sang một hướng khác.

Ngoài ra, với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được quy định lần lượt tại Điều 9, 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính bên cạnh mục đích trừng trị người vi phạm còn hướng đến mục tiêu giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật cho họ và thể hiện tính nhân văn của pháp luật. Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định nguyên tắc xử phạt có liên quan đến tình tiết giảm nhẹ là bảo đảm tính nhân đạo và khuyến khích người vi phạm tự giác hợp tác tích cực trong khắc phục hậu quả hoặc thành thật khai báo. Trong khi đó, các tình tiết tăng nặng nhằm trừng trị nghiêm khắc những đối tượng nguy hiểm hơn, hành vi nguy hại cho xã hội cao hơn.

4. Nguyên tắc người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính.

Để áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt phải chứng minh được cá nhân đó đã thực hiện hành vi vi phạm trên thực tế. Nếu không chứng minh được có vi phạm hành chính trên thực tế thì không thể áp dụng và muốn áp dụng về hành vi vi phạm nào thì phải chứng minh có hành vi đó. Có như vậy, người có thẩm quyền mới có thể biết được cần xử phạt ai và áp dụng như thế nào để tránh sai sót. Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị xử phạt, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đưa ra nguyên tắc người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính.

Nguyên tắc này được thể hiện rất rõ trong quy định về lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo đó: “Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; bản tường trình của người nghiện ma túy hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan”

Việc chứng minh sẽ là một trong những căn cứ để đảm bảo quyền con người, công dân cũng như hiện thực hóa các nguyên tắc còn lại trong áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về pháp luật xử lý vi phạm hành chính

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Sự kiện bất ngờ trong vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Sự kiện bất ngờ là sự kiện mà cá nhân, tổ chức không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi nguy hại cho xã hội do mình gây ra

Phòng vệ chính đáng trong vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Phòng vệ chính đáng là hành vi của cá nhân vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích nói trên.

Nguyên tắc chứng minh trong vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Một trong những nguyên tắc cơ bản của xử phạt vi phạm hành chính là Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh VPHC; Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm

Nguyên tắc cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Một trong những nguyên tắc cơ bản của xử phạt vi phạm hành chính là Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân, tại điểm e, Khoản 1, Điều 3, Luật xử lý vi phạm hành chính