Khi nào một di chúc được xem là hợp pháp?

Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản của mình. Do đó, di chúc phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực chung của một giao dịch dân sự và điều kiện riêng của một di chúc được công nhận là hợp pháp cũng như được bảo hộ. Vậy những điều kiện đó là gì? Bài viết này sẽ làm rõ vấn đề theo quy định Bộ luật Dân sự năm 2015.
Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định di chúc có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng các điều kiện sau:

1. Điều kiện chung

Một là, người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép. Lập di chúc là một hình thức định đoạt tài sản của chủ sở hữu, vì vậy việc lập di chúc phải dựa trên ý chí, mong muốn của người đó. Các tình trạng khi lập di chúc như không minh mẫn, sáng suốt; bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép,…đều là những hình thức lập di chúc không dựa trên ý chí, mong muốn của người lập. Nguyên tắc của pháp luật khi một chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự là tự do, tự nguyện, độc lập về ý chí. Vì vậy đây là điều kiện không thể thiếu để công nhận tính hợp pháp của một di chúc.
Hai là, nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Các quy định của pháp luật, đạo đức xã hội là nguyên tắc cơ bản mà các chủ thể phải tuân theo khi tham gia vào bất kỳ một quan hệ dân sự nào. Nội dung di chúc là ý chí của người lập, do họ tự quyết định nhưng phải đảm bảo không vi phạm các nguyên tắc nền tảng chung. Vì các nguyên tắc, quy định chung là nền tảng để giữ gìn, duy trì trật tự xã hội. 

2. Điều kiện đối với di chúc do người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi lập

Khoản 2 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Những người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi là những người chưa thành niên, hiểu biết của họ vẫn còn hạn hẹp, chưa đầy đủ. Vì vậy, đối với hành vi lập di chúc, người chưa thành phải được sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ là những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc cha, mẹ, người giám hộ không có quyền can thiệp vào nội dụng di chúc nếu nội dung đó đúng với quy định của pháp luật, nội dung di chúc vẫn thể hiện ý chí độc lập của chủ thể lập ra nó. 

3. Điều kiện đối với di chúc do người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ lập

Đối với trường hợp này di chúc phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Người bị hạn chế về thể chất như bị liệt không thể làm việc bình thường hoặc người không biết chữ đương nhiên không thể tự mình trực tiếp lập di chúc, mà phải thực hiện thông qua người làm chứng, theo đó người làm chứng phải ghi chép lại lời nói của người lập di chúc thành văn bản và tiến hành công chứng, chứng thực. Việc công chứng, chứng thực nhằm chắc chắn rằng nội dung di chúc là phù hợp với ý chí, nguyện vọng của người lập, chứ không phải cho người làm chứng ghi chép sai sự thật, trái với mong muốn của người lập di chúc. 

4. Điều kiện đối với di chúc không có công chứng, chứng thực

Trong thực tế không phải lúc nào người lập di chúc bằng văn bản cũng có đủ điều kiện để công chứng, chứng thực di chúc, hoặc có thể do hiểu biết của họ về pháp luật không được rõ ràng. Vì vậy pháp luật cho phép di chúc lập mà không được công chứng, chứng thực có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo điều kiện của pháp luật về năng lực của chủ thể và nội dung di chúc.

5. Điều kiện có hiệu lực của di chúc bằng miệng

Di chúc bằng miệng được xác lập khi người lập di chúc ở trong tình trạng nguy hiểm đe dọa tới tính mạng, không có điều kiện để lập di chúc bằng văn bản. Khi đó di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Trên đây là quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Người quản lý di sản có quyền gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 03/06/2021

Quyền của người quản lý di sản là những lợi ích mà họ nhận được khi thực hiện công việc quản lý di sản

Những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm thì xử lý như thế nào?

Hỏi đáp luật Dân Sự 03/06/2021

Những người có quyền hưởng di sản của nhau là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: cha mẹ, vợ chồng, con cái của người để lại di sản

Người lập di chúc có quyền gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 28/06/2021

Người lập di chúc là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi, tự mình xác lập di chúc chỉ định một hoặc nhiều người và cho họ hưởng tài sản của mình

Di chúc được lập dưới những hình thức nào?

Hỏi đáp luật Dân Sự 28/06/2021

Hình thức di chúc là phương thức thể hiện ý chí của người lập di chúc thông qua nội dung, là căn cứ làm phát sinh quan hệ thừa kế