Nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại là gì?

Trong bất kỳ giao dịch dân sự nào, để đảm bảo lợi ích của bên có quyền không chỉ là việc bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình, mà chính bản thân bên có quyền cũng cần áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại xảy ra. Điều 362 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại như sau:

Điều 362. Nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại
Bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình”.

1.Nghĩa vụ

-Đây là nguyên tắc được ghi nhận lần đầu tiên trong BLDS năm 2015, điều đó góp phần cụ thể hóa nguyên tắc thiện chí, trung thực đã được ghi nhận trong BLDS năm 2005, bên cạnh đó quy định nghĩa vụ này còn góp phần nâng cao nhận thức và ý thức cho bên có quyền nhằm hạn chế một cách tốt nhất thiệt hại có thể xảy ra. Căn cứ vào quy định trên, pháp luật ghi nhận nghĩa vụ của bên có quyền trong việc áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình. Xuất phát từ nguyên tắc thiện chí, trung thực được ghi nhận tại Khoản 3 Điều 3 BLDS năm 2015 quy định về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, cụ thể: ” Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực”. Theo đó, khi xác lập bất kỳ giao dịch dân sự nào các bên đều hướng tới lợi ích của mình, tuy nhiên không thể vì vậy mà bỏ qua lợi ích chung của cả hai bên. Khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ mà gây thiệt hại, nhưng bên có quyền vẫn có khả năng khắc phục thiệt hại đó, thì phải thực hiện áp dụng các biện pháp đó. Bên có quyền không thể vì lợi ích của mình mà bỏ qua lợi ích của bên còn lại. Quy định này cũng nhằm phòng ngừa trường hợp bên có quyền cố ý để bên có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho mình nhằm vu lợi cá nhân. Bên cạnh đó, việc gây thiệt hại trong nhiều trường hợp không phải do ý chí chủ quan của bên có nghĩa vụ, vì vậy, việc bên có quyền áp dụng biện pháp để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại phần nào bảo vệ được lợi ích của cả bên mang nghĩa vụ. 

2.Trách nhiệm

-Tuy nhiên, điều này chỉ quy định về nghĩa vụ, mà không quy định về trách nhiệm của bên có quyền khi không áp dụng biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại. Vì việc xác định xem bên có quyền có cơ hội để áp dụng biện pháp ngăn chặn, hạn chế thiệt hại hay không là rất rộng, khó xác định và phải tùy vào từng trường hợp cụ thể, vậy nên, pháp luật có quy định một số trường hợp bên có quyền phải chịu trách nhiệm do không áp dụng biện pháp cần thiết, hợp lý để hạn chế, ngăn chặn thiệt hại mặc dù có đủ điều kiện để làm điều đó. Ví dụ: khoản 2 Điều 449 BLDS năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo lãnh: “Bên bán không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên mua. Bên bán được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu bên mua không áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại”. Hay khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015 quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”. Khoản 5 cũng quy định: “Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình”. Như vậy, đây là nghĩa vụ mà bên có quyền bắt buộc phải thực hiện, nếu không thực hiện thì bị xem là đã vi phạm nghĩa vụ và phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình. Theo đó, trách nhiệm mà bên có quyền phải gánh chịu khi vi phạm nghĩa vụ là tự mình chịu thiệt hại mà không có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, không những thế bên có quyền còn có thể phải bồi thường cho người khác nếu hành vi vi phạm của mình gây thiệt hại cho người khác.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền

Hoãn thực hiện nghĩa vụ là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Khi không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền biết và đề nghị được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ

Chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ là hành vi của bên mang quyền

Chậm thực hiện nghĩa vụ là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/07/2021

Chậm thực hiện nghĩa vụ là nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện hoặc chỉ được thực hiện một phần khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết.

Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Khi bên mang nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ giao vật, mang lại những thiệt hại không nhỏ cho bên có quyền

Trách nhiệm do không thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Đối tượng của quan hệ nghĩa vụ ngoài tài sản có thể là công việc phải thực hiện hoặc không phải thực hiện

Trách nhiệm do chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ làm phát sinh thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đặt ra khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại cho bên có quyền.