Phạt tiền trong xử lý vi phạm hành chính là gì? (P1)

Phạt tiền là một hình thức xử phạt chính được quy định tại Điều 21, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Theo đó, không có một định nghĩa hay khái niệm về phạt tiền nhưng ngay trong ý các mặt chữ đã chỉ rõ cá nhân, tổ chức khi vi phạm bị phạt tiền thì phải nộp phạt bằng tiền mặt (tiền đồng Việt Nam hoặc bằng ngoại tệ do chính phủ quy định. Vậy, cụ thể về hình thức xử phạt tiền như thế nào? Sẽ được chúng tôi nói rõ trong bài viết dưới đây!

Nội dung:

Điều 23, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định:

Điều 23. Phạt tiền

1. Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 24 của Luật này.

Đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc Trung ương thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá 02 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội.

2. Chính phủ quy định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm hành chính cụ thể theo một trong các phương thức sau đây, nhưng khung tiền phạt cao nhất không vượt quá mức tiền phạt tối đa quy định tại Điều 24 của Luật này:

a) Xác định số tiền phạt tối thiểu, tối đa;

b) Xác định số lần, tỷ lệ phần trăm của giá trị, số lượng hàng hóa, tang vật vi phạm, đối tượng bị vi phạm hoặc doanh thu, số lợi thu được từ vi phạm hành chính.

3.[21] Căn cứ vào hành vi, khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt được quy định tại nghị định của Chính phủ và yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương, Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc Trung ương có quyền quyết định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm trong các lĩnh vực quy định tại khoản 1 Điều này nhưng không vượt quá mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này.

4.[22] Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.

Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

Từ các quy định trên, các vấn đề cần làm rõ bao gồm:

1. Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức

Điều khoản này loại trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 24: “Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực thuế; đo lường; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán; cạnh tranh theo quy định tại các luật tương ứng.”

Đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc Trung ương thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá 02 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội.

Luật xử lý vi phạm hành chính quy định mức thấp nhất của hình thức phạt tiền đó là 50.000 đồng và cao nhất là 2.000.000.000 đồng. Được xem là ranh giới áp dụng giữa vi phạm hành chính và vi phạm hình sự để giải quyết vấn đề trong xã hội. Những năm gần đây, mức phạt này vẫn được áp dụng và mang tính răn đe khá phổ biến bởi chúng đánh đến những lợi ích kinh tế của cá nhân, tổ chức trong xã hội và họ e ngại về số tiền mình bỏ ra vì hành vi vi phạm. Do đó, việc quy định mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức đã phần nào giải quyết được tình trạng chung về vi phạm hành chính và buộc các cá nhân có thẩm quyền xử phạt không được phạt quá mức quy định chung được nói ở trên.

Quy định này được đặt ra đáp ứng nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính, quy định tại Điểm e, Khoản 1, Điều 3, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đó là: “Cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân” xuất phát từ thực tế cuộc sống cho thấy rằng, hành vi của tổ chức vi phạm sẽ có ảnh hưởng nhiều hơn đối với cá nhân vi phạm – mang tính đơn lẻ.

Tuy nhiên, có trường hợp ngoại lệ đặt ra đó là mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực thuế; đo lường; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán; cạnh tranh theo quy định tại các luật tương ứng tức là mức phạt này có thể quá 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức. Thuế; đo lường; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán; cạnh tranh khi xảy ra vi phạm, hậu quả của hành vi hoặc là tác động trực tiếp tới sức khỏe con người, hoặc nghiêm trọng hơn là làm thay đổi bộ mặt, cơ cấu của nền kinh tế, song những lĩnh vực này, pháp luật phải quy định số tiền tối đa mà cá nhân, tổ chức phải chịu tương ứng để phù hợp với đặc thù và linh hoạt trong việc xử phạt. Cụ thể:

- Luật Quản lý thuế năm 2019 quy định hình thức xử phạt tiền là hình thức xử phạt chính trong xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế. Đồng thời, quy định cụ thể các mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế: 

  • Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về XLVPHC. Theo đó, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực thuế đối với cá nhân là 100.000.000 đồng
  • Phạt 10% tính trên số tiền thuế khai thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc số tiền thuế khai tăng trong trường hợp được miễn, giảm, hoàn, không thu thuế đối với hành vi quy định tại Điểm a, Khoản 2 Điều 142 của Luật Quản lý thuế.
  • Phạt 20% tính trên số tiền thuế khai thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc số tiền thuế khai tăng trong trường hợp được miễn, giảm, hoàn, không thu thuế đối với hành vi quy định tại khoản 1 và các điểm b, c khoản 2 Điều 142Luật Quản lý thuế.
  • Phạt từ 01 lần đến 03 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi trốn thuế[10].

- Luật Cạnh tranh năm 2018 đã quy định cụ thể các mức phạt tiền tối đa khác nhau đối với các hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, cụ thể như sau:

  • Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền là 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm, nhưng thấp hơn mức phạt tiền thấp nhất đối với các hành vi vi phạm được quy định trong Bộ luật hình sự.
  • Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế là 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm.
  • Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh là 2.000.000.000 đồng.
  • Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi khác vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 là 200.000.000 đồng.
  • Luật Cạnh tranh năm 2018 cũng quy định, mức phạt tiền tối đa quy định tại các nội dung nêu trên là mức áp dụng đối với hành vi vi phạm của tổ chức; đối với cá nhân có cùng hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, mức phạt tiền tối đa bằng một phần hai mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức. Đồng thời, Luật Cạnh tranh năm 2018 giao Chính phủ quy định chi tiết mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định của Luật này.

- Luật Chứng khoán năm 2019 quy định mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực chứng khoán như sau:

  • Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 12 của Luật này là 10 lần khoản thu trái pháp luật có được từ hành vi vi phạm. Trường hợp không có khoản thu trái pháp luật hoặc mức phạt tính theo khoản thu trái pháp luật thấp hơn mức phạt tiền tối đa quy định tại khoản 4 Điều này thì áp dụng mức phạt tiền tối đa quy định tại khoản 4 Điều này. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định phương pháp tính khoản thu trái pháp luật có được từ việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
  • Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực chứng khoán là 03 tỷ đồng.
  • Luật Chứng khoán năm 2019 quy định mức phạt tiền tối đa nêu trên được áp dụng đối với tổ chức; cá nhân thực hiện cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền tối đa bằng một phần hai mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức.

Bên cạnh đó, đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc Trung ương thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá 02 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội.

Thành phố trực thuộc trung ương là một loại hình đơn vị hành chính cấp tỉnh của Việt Nam. Đây là các thành phố nằm dưới sự quản lý của trung ương, khác với các thành phố thuộc tỉnh nằm dưới sự quản lý của tỉnh, chỉ tương đương cấp huyện.Thành phố trực thuộc trung ương là các đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại I, và được xác định là các đô thị trung tâm cấp quốc gia. Đây là các thành phố lớn, có nền kinh tế phát triển, là khu vực quan trọng về quân sự, chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội là động lực phát triển cho cả quốc gia chứ không còn nằm bó hẹp trong một tỉnh, hay một vùng (liên tỉnh) nữa. Các thành phố này có cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ phát triển, có nhiều cơ sở giáo dục bậc cao, dân cư đông, thuận lợi về giao thông vận tải.

Quy định này được áp dụng với nội thành của 05 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ và chỉ áp dụng ở các lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội. Mức phạt chung ở đây là mức phạt được quy định trong các hành vi vi phạm cụ thể.

2. Chính phủ quy định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm hành chính

Áp dụng cụ thể theo một trong các phương thức sau đây, nhưng khung tiền phạt cao nhất không vượt quá mức tiền phạt tối đa quy định tại Điều 24 của Luật này:

a) Xác định số tiền phạt tối thiểu, tối đa;

b) Xác định số lần, tỷ lệ phần trăm của giá trị, số lượng hàng hóa, tang vật vi phạm, đối tượng bị vi phạm hoặc doanh thu, số lợi thu được từ vi phạm hành chính.

Mức phạt tiền tối thiểu là 50.000 đồng đối với cá nhân và 100.000 đồng đối với mọi tổ chức, cá nhân vi phạm trong mọi lĩnh vực và Điều 24, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định mức phạt tiền tối đa như sau:

- Phạt tiền đến 30.000.000 đồng: hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; bạo lực gia đình; lưu trữ; tín ngưỡng, tôn giáo; thi đua, khen thưởng; hành chính tư pháp; dân số; vệ sinh môi trường; thống kê; đối ngoại;

- Phạt tiền đến 40.000.000 đồng: an ninh trật tự, an toàn xã hội; cản trở hoạt động tố tụng; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; giao dịch điện tử; bưu chính;

- Phạt tiền đến 50.000.000 đồng: phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; bổ trợ tư pháp; y tế dự phòng; phòng, chống HIV/AIDS; văn hóa; thể thao; du lịch; quản lý khoa học, công nghệ; chuyển giao công nghệ; bảo vệ, chăm sóc trẻ em; bảo trợ, cứu trợ xã hội; phòng, chống thiên tai; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; quản lý và bảo tồn nguồn gen (trừ nguồn gen giống vật nuôi); trồng trọt (trừ phân bón); thú y; kế toán; kiểm toán độc lập; phí, lệ phí; quản lý tài sản công; hóa đơn; dự trữ quốc gia; hóa chất; khí tượng thủy văn; đo đạc và bản đồ; đăng ký doanh nghiệp; kiểm toán nhà nước;

- Phạt tiền đến 75.000.000 đồng: cơ yếu; quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia; quốc phòng, an ninh quốc gia; lao động; giáo dục; giáo dục nghề nghiệp; giao thông đường bộ; giao thông đường sắt; giao thông đường thủy nội địa; bảo hiểm y tế; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm thất nghiệp; phòng, chống tệ nạn xã hội;

- Phạt tiền đến 100.000.000 đồng: đê điều; khám bệnh, chữa bệnh; mỹ phẩm; dược, trang thiết bị y tế; chăn nuôi; phân bón; quảng cáo; đặt cược và trò chơi có thưởng; quản lý lao động ngoài nước; giao thông hàng hải; hoạt động hàng không dân dụng; quản lý và bảo vệ công trình giao thông; công nghệ thông tin; viễn thông; tần số vô tuyến điện; an ninh mạng; an toàn thông tin mạng; xuất bản; in; thương mại; hải quan, thủ tục thuế; kinh doanh xổ số; kinh doanh bảo hiểm; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quản lý vật liệu nổ; điện lực;

- Phạt tiền đến 150.000.000 đồng: quản lý giá; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý, phát triển nhà và công sở; đấu thầu; đầu tư;

- Phạt tiền đến 200.000.000 đồng: sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

- Phạt tiền đến 250.000.000 đồng: điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thủy lợi; sở hữu trí tuệ; báo chí;

- Phạt tiền đến 500.000.000 đồng: xây dựng; lâm nghiệp; đất đai; kinh doanh bất động sản;

- Phạt tiền đến 1.000.000.000 đồng: quản lý các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý hạt nhân và chất phóng xạ, năng lượng nguyên tử; tiền tệ, kim loại quý, đá quý, ngân hàng, tín dụng; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; thủy sản.

- Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực thuế; đo lường; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán; cạnh tranh theo quy định tại các luật tương ứng.

- Mức phạt tiền tối đa đối với lĩnh vực mới chưa được quy định tại khoản 1 Điều này do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Như vậy, người có thẩm quyền không được xử phạt hành chính vượt quá mức được nói đến ở trên và mọi văn bản pháp luật ban hành về xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào mức tiền tối thiểu và tối đa được quy định ở trên trừ những trường hợp Pháp luật quy định khác. Luật xử lý vi phạm hành chính không quy định cụ thể về các trường hợp áp dụng hình thức phạt tiền. Do đó, việc áp dụng hình thức này hoàn toàn phụ thuộc vào quy định của Chính phủ và nguyên tắc: Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính. Theo đó, phạt tiền chỉ được áp dụng đối với các vi phạm hành chính bị áp dụng hình thức phạt tiền theo quy định cụ thể của Chính phủ; đối với các vi phạm hành chính có thể áp dụng hình thức phạt tiền hoặc hình thức xử phạt chính khác (thường là hình thức xử phạt cảnh cáo) thì phạt tiền chỉ được áp dụng trong trường hợp không đủ điều kiện áp dụng hình thức xử phạt chính khác theo quy định của pháp luật

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về pháp luật xử lý vi phạm hành chính

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Diện tích đất vi phạm và mức phạt hành vi vi phạm hành chính được xác định như thế nào?

Hỏi đáp luật Đất đai 22/07/2021

Bài viết trình bày về việc xác định diện tích đất vi phạm và mức phạt hành vi vi phạm hành chính

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là gì?

Hỏi đáp luật Đất đai 22/07/2021

Bài viết trình bày các quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là gì? (P4)

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Thi hành pháp luật hay thực thi pháp luật là một hệ thống mà một số thành viên của xã hội hành động theo một phong cách có tổ chức để thực thi pháp luật bằng cách khám phá, ngăn chặn, phục hồi, hoặc trừng phạt những người vi phạm luật lệ và các quy tắc

Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 bên cạnh quy định trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang bộ, của Ủy ban nhân dân và những tổ chức, cá nhân khác thì tại Điều 18, quy định về trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý VPHC

Giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

uy định giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Điều 19, Luật XLVPC năm 2012

Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ nước Việt Nam là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Điều 20, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Các hình thức xử phạt và nguyên tắc áp dụng trong xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 ra đời, được SĐ, BS vào năm 2020 là một văn bản pháp lý quan trọng quy định những quy tắc xử sự chung trong việc XLVPHC. Theo đó, tại điều 21 quy định, có 05 hình thức xử phạt chính và 03 hình thức xử phạt bổ sung

Cảnh cáo hành chính là gì? So sánh hình thức xử phạt cảnh cáo và phạt cảnh cáo?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi VPHC do người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 thực hiện