Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh

Điều 339 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quan hệ giữa các bên bảo lãnh như sau:

Điều 339. Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh
1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.
2. Bên nhận bảo lãnh không được yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi nghĩa vụ chưa đến hạn.
3. Bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh”
.

Trong quan hệ bảo đảm, các bên chủ thể có mối liên hệ gắn kết với nhau, trong đó, giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh là quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền khi bên được bảo lãnh không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Theo nguyên tắc chung của bảo lãnh, khi bên được bảo lãnh thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải bảo lãnh toàn bộ nghĩa vụ. Do đó, bên nhận bảo lãnh cũng có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ nếu bên mang nghĩa vụ không hoàn khi đến hạn. Tuy nhiên, trên thực tế biện pháp bảo lãnh mang rủi ro cho bên bảo lãnh rất nhiều, khi bên được bảo lãnh trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ cố tình ỷ lại vào bên bảo lãnh. Vì vậy, bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ thực hiện bảo lãnh khi bên có nghĩa vụ “không đủ khả năng” thực hiện nghĩa vụ. Điều kiện kèm theo đó là bên bảo lãnh phải chứng minh được bên được bảo lãnh có đủ khả năng nhưng không thực hiện nghĩa vụ. 
Theo nguyên tắc về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bên nhận bảo đảm chỉ được yêu cầu bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn. Vậy nên, khi chưa đến hạn bảo lãnh thì bên bảo lãnh không có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ với mình. Điều 335 BLDS năm 2015 quy định bên bảo lãnh “sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Như vậy, thời điểm mà bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ được xác định là khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp bảo lãnh đến hạn. Hợp đồng bảo lãnh phát sinh đồng thời và tồn tại cùng với hợp đồng chính, vì vậy, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì khi đến thời hạn này, bên nhận bảo lãnh được quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ với mình. Tuy nhiên, điều kiện là bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ. Nếu đến thời hạn, mà bên được bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ thì bên được bảo lãnh không được yêu cầu bên bảo lãnh tiếp tục thực hiện nghĩa vụ với mình. Bên cạnh đó, nếu các bên thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ bảo lãnh nghĩa vụ nếu bên được bảo lãnh không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ, thì dù thời hạn bảo lãnh đã đến và bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ dù đủ điều kiện để thực hiện, thì bên nhận bảo lãnh cũng không được yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ. 
Trong thời hạn bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên có nghĩa vụ có thể phát sinh quan hệ nghĩa vụ mới, mà bên nhận bảo lãnh là bên có nghĩa vụ, và nghĩa vụ đó có thể bù trừ cho nghĩa vụ đang được bảo lãnh. Như vậy, lúc này nghĩa vụ được bảo lãnh xem như chấm dứt, bên bảo lãnh cũng không cần phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nữa. Ví dụ: A vay B 50 triệu đồng, C là người đứng ra bảo lãnh cho khoản vay của A đối với B. Trong thời gian bảo lãnh, B có mua của A một chiếc xe trị giá 50 triệu, lúc này, trong quan hệ nghĩa vụ mới hình thành B là bên mang nghĩa vụ, có nghĩa thanh toán cho A 50 triệu đồng. A và B thỏa thuận về việc bù trừ nghĩa vụ cho nhau, vì cả hai nghĩa vụ đều có giá trị như nhau nên sau khi thực hiện bù trừ cả hai bên đều không còn nghĩa vụ với nhau. Lúc này, mặc dù thời hạn thực hiện nghĩa vụ chưa hết nhưng nghĩa vụ xem như đã thực hiện xong, do đó, nghĩa vụ bảo lãnh cũng chấm dứt.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Bảo lưu quyền sở hữu là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 17/07/2021

Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ.

Bảo lãnh là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 17/07/2021

Bảo lãnh là việc người thứ ba cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ

Phạm vi bảo lãnh?

Hỏi đáp luật Dân Sự 17/07/2021

Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.

Nhiều người cùng bảo lãnh?

Hỏi đáp luật Dân Sự 17/07/2021

Khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì phải liên đới thực hiện việc bảo lãnh,