Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ?

Cùng với trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại đặt ra khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại cho bên có quyền. Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ như sau:

Điều 360. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ

Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”

1.Khái niệm

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hiểu là trách nhiệm dân sự, trong đó, người vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc người có hành vi xâm phạm tính mạng, uy tín, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác thì phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra.

2.Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

- Để xác định nghĩa vụ bồi thường của một bên vi phạm trong quan hệ, trước tiên phải xác minh được có thiệt hại xảy ra. Thiệt hại là nguyên nhân dẫn đến bồi thường thiệt hại, do đó, khi một bên vi phạm nghĩa vụ bên còn lại phải chứng minh thiệt hại xảy ra. Việc chứng minh thiệt hại không chỉ quyết định việc một bên có phải bồi thường thiệt hại hay không, mà nó còn xác định được mức bồi thường mà bên vi phạm phải chịu.

- Phải có quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi vi phạm. Tức, thiệt hại xảy ra phải do hành vi của bên vi phạm trực tiếp tác động nên. Khoản 3 Điều 351 BLDS năm 2015 quy định: “Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”. Theo đó, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên có quyền thì bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về hành vi đó. Theo nguyên tắc, không ai phải chịu trách nhiệm về lỗi của người khác gây ra, đồng thời chủ thể tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Thì khi có thiệt hại, nếu không muốn bồi thường thiệt hại thì bên có nghĩa vụ phải chứng minh được thiệt hại đó không phải do lỗi của mình gây ra mà là do lỗi của bên có quyền. Bên cạnh đó khoản 2 Điều 351 BLDS cũng quy định, bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng.

3.Trách nhiệm

- Bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm pháp lý được áp dụng chủ yếu trong dân sự vì trong lĩnh vực dân sự, quan hệ tài sản là quan hệ phổ biến và trách  nhiệm về tài sản cũng là trách nhiệm chủ yếu. Khi lợi ích vật chất của một bên bị vi phạm, thì việc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại là biện pháp tốt nhất nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của các bên. Căn cứ vào quy định trên, trách nhiệm bồi thường bao gồm toàn bộ thiệt hại, bao gồm cả thiệt hại trong và ngoài hợp đồng. Theo nguyên tắc chung, thiệt hại bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu. 

- Về cơ bản, quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm bảo vệ lợi ích của bên có quyền, do đó, bên có quyền có thể đồng ý hay không việc bồi thường đó. Pháp luật tôn trong tự do ý chí thỏa thuận của các bên, mà mọi giao dịch đều hình thành dựa trên thỏa thuận của các bên. Vì vậy, các bên có thể thỏa thuận bồi thường thấp hơn, hoặc cao hơn toàn bộ thiệt hại xảy ra và được pháp luật bảo vệ. 

4.Vụ việc thực tế về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ

Bản án số 217/2021/DS-PT ngày 16/06/2021 V/v tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng[1]

4.1.Nội dung vụ việc

- Ngày  07/02/2020  vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn  Hồng T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất của ông Nguyễn Xuân Q và  bà Trương Thị Kim L, địa chỉ 335, tổ 14, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Ngày 25/02/2020 bà Hông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Do chưa có nhu cầu sử dụng nhà nên gia đình ông bà khóa cửa không, khi đến dọn dẹp nhà thì phát hiện mái nhà bếp bị vỡ 03 tấm lợp Fibro Xi măng và tường rào nhà bếp bị xây gạch chồng lên (dày 01 hàng gạch, cao khoảng 70cm, rộng 4,5m), hàng gạch cuối cùng được xây quay ngang. Bà H cho rằng người gây thiệt hại và làm hư hỏng tài sản nhà bà là gia đình liền kề ông Trần Minh H, bà Trần Thị Thúy H1. Vì vậy bà H đề nghị Tòa án buộc ông Trần Minh H và bà Trần Thị Thúy H1 có nghĩa vụ tháo dỡ phần xây gạch chồng lên tường bếp nhà bà có tổng diện tích là 3,75m2, xây dựng hoàn trả lại hiện trạng bếp như ban đầu, đền bù thiệt hại tài sản là 03 tấm lợp Fibro xi măng và 03 cây đòn tay nhà bếp bị mưa dột gây mục với số tiền 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng), đền bù thiệt hại do không sử dụng được nhà vì bếp bị hỏng với số tiền 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng). -Tại phiên tòa sơ thẩm bà Nguyễn Thị H xin rút 02 yêu cầu khởi kiện về yêu cầu ông Trần Minh và  bà Trần Thị Thúy H1 đền bù thiệt hại tài sản 03 cây đòn tay nhà bếp bị mưa dột gây mục với số tiền 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và yêu cầu ông H và bà H1 đền bù thiệt hại do không sử dụng được nhà 

vì bếp bị hỏng với số tiền 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng). 

- Gia đình bà H bị thiệt hại là thực tế, tuy nhiên bà chỉ yêu cầu ông H và bà H1 tháo dỡ phần xây gạch chồng lên tường bếp có tổng diện tích là 3,75 m2 và đền bù thiệt hại tài sản là 03 tấm lợp Fibro xi măng, xây lại, lợp lại mái nhà bếp theo tình trạng như ban đầu.

4.2.Quyết định của Tòa án

Căn cứ vào:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308,Điều 148 BLTTDS; Nghị  quyết  số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thúy H1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 15/2021/DS-ST ngày 25/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố T như sau:

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Trần Minh H và bà Trần Thị Thúy H1.

-Buộc ông Trần Minh H và bà Trần Thị Thúy H1 phải tháo dỡ phần gạch xây chồng lên tường có diện tích là:{(1,8 x 1,0) + (0,65 + 0,8) x 2,7)} : 2 = 3,75 m2 (có sơ đồ đo vẽ kèm theo)

- Buộc ông Trần Minh H và bà Trần Thị Thúy H1 phải bồi thường 03 (ba) tấm lợp Fibro xi măng có trị giá 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) và tiền công thuê thợ khắc phục lại thiệt hại 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).“Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền, thì bên đó phải trả lãi suất theo quy định của Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án”

Luật Hoàng Anh

[1]https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta724348t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 23/07/2021.

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Nhiều người cùng bảo lãnh?

Hỏi đáp luật Dân Sự 17/07/2021

Khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì phải liên đới thực hiện việc bảo lãnh,

Quyền của bên cầm giữ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 20/07/2021

Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ

Nghĩa vụ của bên cầm giữ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 20/07/2021

Để bảo lợi ích của bên có nghĩa vụ trong quan hệ cầm giữ tài sản, bên cầm giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Hình thức, nội dung tín chấp?

Hỏi đáp luật Dân Sự 20/07/2021

Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có xác nhận của tổ chức chính trị - xã hội

Cầm giữ tài sản là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 20/07/2021

Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ

Trách nhiệm do không thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Đối tượng của quan hệ nghĩa vụ ngoài tài sản có thể là công việc phải thực hiện hoặc không phải thực hiện

Bộ luật tố tụng hình sự quy định về biện pháp cưỡng chế phong tỏa tài khoản như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày về biện pháp cưỡng chế phong tỏa tài khoản theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trách nhiệm do chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ làm phát sinh thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt hại