2
Tư vấn mở chuỗi kinh doanh nhượng quyền thương mại
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một loại chứng thư pháp lý vô cùng quan trọng đối với người sử dụng đất. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi trường hợp đều được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Điều 99, Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013( sau đây gọi là Luật đất đai 2013) quy định về 10 trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, cụ thể như sau:
"Điều 99. Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:
a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;
b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;
c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;
d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;
e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;
h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;
k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này".
Từ quy định trên, ta có thể thấy, pháp luật hiện hành quy định về 10 trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất bao gồm: người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này, cụ thể: hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ hoặc không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất, người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành tức ngày 01/07/2014, người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất, người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;…Pháp luật quy định các trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận như vậy căn cứ vào các đối tượng sử dụng đất. Luật đất đai 2013 quy định về các đối tượng sử dụng đất bao gồm hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài…
Như vậy, nếu người sử dụng đất chứng minh được QSDĐ của mình thông qua các loại giấy tờ nêu trên thì xác lập hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ để được cấp theo thủ tục quy định tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai.
2. Các quy định trong văn bản pháp luật đất đai khác
Bên cạnh 10 trường hợp quy định tại Điều 99, Luật đất đai 2013, Khoản 19, Điều 2, Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 23, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngaỳ 15/05/2014 của Chính phủ quy định như sau:
“6. Trường hợp người đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, đất đó không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch nhưng tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận có nhà ở hoặc không có nhà ở thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.”
Đây là một trường hợp bổ sung thêm cùng với 10 trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quy định trong Luật đất đai 2013. Với đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/07/2004, đất không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch, nếu người sử dụng đất có có đề nghị thì sẽ được xem xét cấp Giấy chứng nhận và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính.
Trên đây là những quy định của pháp luật hiện hành về các trường hợp được cấp Giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất. Những quy định trên không chỉ góp phần xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ về đất đai mà còn giúp cho người sử dụng đất tiếp cận gần hơn với hệ thống pháp luật nước nhà.
Luật Hoàng Anh
Để nhận tin tức và quà tặng từ Luật Hoàng Anh