Chương trình thưởng cổ phiếu ở nước ngoài tại Việt Nam?

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay, đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước được lựa chọn các hình thức đầu tư khác nhau, đặc biệt là đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của các nhà đầu tư trong nước. Hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài hiện đang được các nhà đầu tư cá nhân trong nước quan tâm đặc biệt đó là hoạt động mua cổ phiếu của Công ty nước ngoài tại Việt Nam, bởi thị trường cổ phiếu nước ngoài đang là thị trường tiềm năng và ngày càng trở nên thu hút đối với các nhà đầu tư.

I. Chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài.

Chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài đã được pháp luật chứng khoán quy định tại Điều 7 đến Điều 12 Thông tư 10/2016/TT-NHNN. Cụ thể như sau:

1. Đối tượng đầu tư gián tiếp ra nước ngoài dưới hình thức tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài

Người lao động có quốc tịch Việt Nam đang làm việc tại tổ chức nước ngoài ở Việt Nam được đầu tư gián tiếp ra nước ngoài dưới hình thức tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài.

2. Nguyên tắc thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài

Việc thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài có đối tượng tham gia là người lao động có quốc tịch Việt Nam chỉ được thực hiện thông qua tổ chức thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu và sau khi được Ngân hàng Nhà nước xác nhận đăng ký.

- Ngoại tệ thu được từ việc bán cổ phiếu, bán quyền mua cổ phiếu ở nước ngoài của người lao động có quốc tịch Việt Nam, cổ tức và các thu nhập hợp pháp khác phải chuyển cho người lao động có quốc tịch Việt Nam thông qua tài Khoản thực hiện chương trình.

- Tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối, nghĩa vụ nộp thuế thu nhập và các quy định khác có liên quan của pháp luật.

3. Hình thức thưởng

- Thưởng trực tiếp bằng cổ phiếu.

- Thưởng quyền mua cổ phiếu với các Điều kiện ưu đãi.

4. Quyền của người lao động có quốc tịch Việt Nam

- Được nhận và sở hữu cổ phiếu thường; bán cổ phiếu thưởng ở nước ngoài; nhận cổ tức và các thu nhập hợp pháp khác thông qua tổ chức thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu.

- Nhận quyền mua cổ phiếu thưởng; thực hiện quyền mua cổ phiếu thưởng ở nước ngoài và sở hữu cổ phiếu thưởng; nhận cổ tức và các thu nhập hợp pháp khác; bán quyền mua cổ phiếu thưởng ở nước ngoài thông qua tổ chức thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu.

- Được sử dụng ngoại tệ tự có trên tài Khoản; trích lương, thưởng hoặc sử dụng nguồn thu hợp pháp khác để mua ngoại tệ thanh toán tiền mua cổ phiếu thưởng tại tổ chức tín dụng: được phép thông qua tổ chức thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu.

- Được nhận tiền bán cổ phiếu thường ở nước ngoài, bán quyền mua cổ phiếu thường ở nước ngoài bằng ngoại tệ thông qua tổ chức thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu.

5. Trình tự, thủ tục đăng ký thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài

- Tổ chức thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện 01 (một) bộ hồ sơ đăng ký thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài bằng tiếng Việt đến Ngân hàng Nhà nước. Hồ sơ gồm:

+ Văn bản đăng ký thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài (theo mẫu tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư 10/2016/TT-NHNN);

+ Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của tổ chức nước ngoài;

+ Bản sao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký hoạt động văn phòng Điều hành hoặc giấy phép thành lập chi nhánh/văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài tại Việt Nam hoặc các giấy tờ khác có giá trị pháp lý tương đương;

+ Tài liệu mô tả nội dung chi Tiết chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài;

+ Danh sách người lao động có quốc tịch Việt Nam được tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài.

- Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, hợp lệ, trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Ngân hàng Nhà nước có văn bản yêu cầu nhà đầu tư chỉnh sửa, bổ sung hồ sơ.

- Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước xác nhận đăng ký việc thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài có đối tượng tham gia là người lao động có quốc tịch Việt Nam.

- Trường hợp tổ chức thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu chấm dứt hoạt động tại Việt Nam, trước khi chấm dứt hoạt động tại Việt Nam, tổ chức thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu phải bán cổ phiếu thưởng, quyền mua cổ phiếu thưởng và chuyển toàn bộ số tiền thu được cho người lao động, có quốc tịch Việt Nam tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoàiSau khi được Ngân hàng Nhà nước xác nhận đăng ký thì Công ty bạn sẽ tiến hành phát hành cổ phiếu thưởng cho người lao động.

6. Mở và sử dụng tài Khoản thực hiện chương trình

- Sau khi được Ngân hàng Nhà nước xác nhận đăng ký thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài, tổ chức thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu phải mở 01 (một) tài Khoản thực hiện chương trình để thực hiện các giao dịch thu, chi theo quy định.

- Các giao dịch thu:

+ Thu ngoại tệ từ việc bán cổ phiếu ở nước ngoài;

+ Thu ngoại tệ từ việc bán quyền mua cổ phiếu ở nước ngoài;

+ Thu cổ tức và các thu nhập hợp pháp khác liên quan đến chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài;

+ Thu từ tài Khoản ngoại tệ của người lao động có quốc tịch Việt Nam tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài;

+ Thu ngoại tệ mua từ tổ chức tín dụng được phép cho người lao động có quốc tịch Việt Nam tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài.

- Các giao dịch chi:

+ Chi mua cổ phiếu ở nước ngoài;

+ Chi bán ngoại tệ cho tổ chức tín dụng được phép để chuyển sang tài Khoản bằng đồng Việt Nam của người lao động có quốc tịch Việt Nam tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài;

+ Chi chuyển sang tài Khoản ngoại tệ của người lao động có quốc tịch Việt Nam tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài;

+ Các Khoản chi phí khác như phí, lệ phí (nếu có).

Để thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài cần phải đáp ứng 3 điều kiện:

- Đối tượng hưởng được thưởng cổ phiếu phiếu phát hành ở nước ngoài là người lao động có quốc tịch Việt Nam;

- Chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài được thực hiện thông qua tổ chức thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu;

- Được Ngân hàng Nhà nước xác nhận đăng ký.

II. Thực trạng chương trình thưởng cổ phiếu ở nước ngoài.

1. Hoạt động thưởng cổ phiếu cho người lao động tại các doanh nghiệp

Khoản 1 Điều 3 Nghị định 135/2015/NĐ-CP quy định:

“1. Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài là hoạt động đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức mua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài.”

Khoản 1 Điều 5 Nghị định 135/2015/NĐ-CP quy định:

“Điều 5. Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của cá nhân

1. Nhà đầu tư là cá nhân có quốc tịch Việt Nam chỉ được thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài dưới hình thức tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài.”

Nhà đầu tư có Quốc tịch Việt Nam chỉ được thực hiện gián tiếp ra nước ngoài dưới hình thức tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài. Nghĩa là chương trình của tổ chức nước ngoài - tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam (gồm: tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện, văn phòng Điều hành của bên nước ngoài trong hợp đồng hợp tác kinh doanh) thưởng cổ phiếu cho người lao động làm việc trong các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.

Vì những hạn chế về kinh nghiệm đầu tư cũng như khả năng tài chính và rào cản ngôn ngữ của nhà đầu tư là cá nhân, nên chính sách quản lý này là tương đối phù hợp với thực tiễn hiện nay, từng bước hỗ trợ cho nền tảng trong lĩnh vực đầu tư cá nhân tiến xa hơn trong tương lai gần.

Chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài có đối tượng tham gia là người lao động có quốc tịch Việt Nam chỉ được thực hiện thông qua tổ chức thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu và sau khi được Ngân hàng Nhà nước xác nhận đăng ký.

Như vây, cá nhân có Quốc tịch Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam không được phép đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức mua cổ phần của Công ty nước ngoài tại Việt Nam, trừ trường hợp duy nhất là cá nhân có Quốc tịch Việt Nam đang là người lao động của tổ chức nước ngoài ở Việt Nam thì cá nhân này được quyền đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thông qua tổ chức thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu. Điều này hoàn toàn hợp pháp và được pháp luật Việt Nam bảo vệ.

Theo Điều 9 Thông tư 10/2016/TT-NHNN thì hình thức thưởng trong chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài gồm hai hình thức:

1. Thưởng trực tiếp bằng cổ phiếu.

2. Thưởng quyền mua cổ phiếu với các Điều kiện ưu đãi.

Tùy từng trường hợp cụ thể mà tổ chức nước ngoài sẽ quyết định lựa chọn hình thức thưởng phù hợp.

Hiện nay ở Việt Nam có chương trình thưởng cổ phiếu cho người lao động đang làm việc cho Công ty niêm yết trên sàn chứng khoán thường được biết đến với các tên gọi như: phát hành cổ phiếu ESOP. Thường thì Giá Cổ phiếu được mua trong Chương trình này rất thấp so với giá Cổ phiếu thi trường và được thưởng trên cơ sở kết quả phấn đấu của nhân viên đó cũng như là 1 biện pháp hiệu quả giữ lại nhân tài cho Công ty. Các Công ty Niêm yết hàng đầu ở Việt Nam cũng vận dụng Chương trình này rất triệt để.

ESOP (Employee Stock Ownership Plan) là kế hoạch phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty. Cổ phiếu ESOP thường được phát hành với giá ưu đãi kèm một số điều kiện. Ví dụ: Techcombank phát hành hơn 6 triệu cổ phiếu, trong đó có 705.367 cổ phiếu phát hành cho người lao động nước ngoài và hơn 5,3 triệu cổ phiếu phát hành cho người lao động Việt Nam. Tỷ lệ cổ phiếu phát hành/tổng cổ phiếu đang lưu hành là 0,1714%. Giá phát hành là 10.000 đồng/cp. Cổ phiếu ESOP bị hạn chế chuyển nhượng trong 1 năm.

Trên thực tế, nhiều nhà sáng lập các doanh nghiệp đã áp dụng phương án phát hành cổ phiếu thưởng cho Người lao động trong khi không năm rõ về điều kiện, cách thức hiện hiện cũng như các rủi ro pháp lý có thể phát sinh đối với cả công ty và Người lao động.

Những công ty lớn thành công trong việc phát hành ESOP cho người lao động đều có một điểm chung, họ là những công ty cổ phần đại chúng và đây là điều kiện tiên quyết để có thể áp dụng biện pháp phát hành cổ phiếu thưởng cho người lao động. Trong khi đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa đáp ứng được điều kiện này. Việc thực hiện chào bán cổ phiếu khi không đáp ứng các điều kiện Luật định có thể dẫn đến giao dịch bị vô hiệu.

Xét về bản chất cổ phần của một công ty cổ phần thông thường có thể chia làm hai loại:

- Cổ phần mà các cổ đông hiện hữu sở hữu

- Cổ phần do công ty phát hành mới nhằm mục đích tăng vốn điều lệ.

Đối với các Công ty cổ phần thông thường không có quy định trực tiếp về việc phát hành cổ phần thưởng cho Người lao động. Do đó, nếu muốn thực hiện thưởng cổ phần cho Người lao động, doanh nghiệp trước tiên phải xác định nguồn cổ phần thưởng cho người lao động xuất phát từ nguồn nào (từ Cổ đông hiện hữu hay từ phía Công ty) sau đó mới thực hiện các thủ tục tương ứng.

- Đối với nguồn cổ phần thuộc sở hữu của các cổ đông hiện hữu, việc tăng cổ phần cho người lao động sẽ được thực hiện theo phương thức tất cả hoặc một số cổ đông hiện hữu cùng thống nhất tặng cho một lượng cổ phần nhất định cho người lao động thông qua thỏa thuận dân sự giữa Cổ động và Người lao động. Với phương thức này, nghĩa vụ tặng cho cổ phần là nghĩa vụ của các cá nhân Cổ đông hiện hữu chứ không phải của công ty, do đó, công ty sẽ không chào bán bất kỳ cổ phần nào và cũng không tăng vốn điều lệ, còn số cổ phần của Cổ đông hiện hữu sẽ giảm xuống tương ứng với số cổ phần đã tặng cho người lao động.

- Còn đối với trường hợp Công ty tặng cổ phần cho người lao động từ nguồn vốn của Công ty. Các công ty cổ phần thông thường chỉ có thể thực hiện dưới hình thức phát hành thêm cổ phần chào bán riêng lẻ để người lao động mua theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, điều này sẽ dẫn đến hệ quả làm tăng vốn điều lệ của Công ty đồng thời các bên phải tuân thủ các quy định về thuế và lao động có liên quan.

Thêm vào đó, một vấn đề còn tồn tại trên thực tế đó là cơ chế phát hành ESOP của nhiều doanh nghiệp không minh bạch, đa phần là ủy quyền cho HĐQT. Kết quả là nhiều doanh nghiệp chỉ phát hành ESOP tập trung cho lãnh đạo và không có thời gian hạn chế chuyển nhượng. Cổ đông nhỏ khó có thể tác động quyết định vì chỉ chiếm tỷ lệ biểu quyết thấp.

ESOP luôn là một chủ đề nhạy cảm và gây tranh cãi ngay cả ở nước ngoài. Về mặt tốt, ESOP là cách để doanh nghiệp thưởng xứng đáng cho đội ngũ nhân sự để giữ chân họ, đặc biệt với những công ty nơi nguồn nhân lực giữ vai trò chủ chốt như trong các lĩnh vực công nghệ, khởi nghiệp. Nếu nguồn nhân lực được nuôi dưỡng tốt, cổ đông có thể chấp nhận đánh đổi lợi ích trước mắt để lấy tăng trưởng dài hạn. Tuy nhiên, lợi ích dài hạn là một khái niệm vô chừng và phụ thuộc hoàn toàn vào cách thiết kế ESOP

Ở nhiều nước, ESOP là phương án rất phổ biến, đặc biệt với các công ty công nghệ. Vấn đề kế toán của ESOP và tác động của nó đến giá trị doanh nghiệp là chủ đề nóng. Các doanh nghiệp quốc tế cũng đang nâng dần tính minh bạch và các tiêu chí để phát hành ESOP. Một giải pháp cụ thể là thành lập ủy ban lương thưởng có cổ đông độc lập thật sự và đại diện của người lao động. Cách này giúp lập ra các tiêu chí công việc (KPI) hợp lý cho lãnh đạo cũng như cấu trúc lương thưởng hợp lý. Nhờ đó, tránh được hiện tượng lãnh đạo công ty tự quyết việc trả lương và thưởng cho mình vô tội vạ, rút ruột công ty làm giàu cho mình.

Thưởng cổ phiếu là một hình thức thưởng cho nhân viên, vậy câu hỏi đặt ra là tại sao không trực tiếp tăng thu nhập cho Người lao động mà phải phát hành cổ phiếu ESOP?

Việc sử dụng công cụ ESOP mặc dù đi kèm nhiều điều kiện ràng buộc nhưng đem lại nhiều lợi ích cho ban lãnh đạo của doanh nghiệp - những người đề xuất và được hưởng lượng cổ phiếu ESOP rất lớn (thường chiếm 30-60% tổng lượng phát hành và nhiều doanh nghiệp không công bố chi tiết danh sách các cá nhân nhận ESOP).

- Lợi ích đầu tiên là vấn đề thuế. Thông thường, doanh nghiệp quyết định thưởng trực tiếp cho nhân viên, phần thuế thu nhập tối đa phải chịu là 35% nhưng nếu thưởng ESOP, việc chuyển nhượng sau thời gian hạn chế chỉ chịu mức thuế 0,1% giá trị giao dịch chứng khoán.

- Ngoài ra, hiện chuẩn mực kế toán Việt Nam không có quy định về việc hạch toán chi phí phát hành ESOP, vốn được nhiều doanh nghiệp sử dụng từ nguồn lợi nhuận sau thuế chưa phân phối. Do vậy, so với phương án thưởng trực tiếp sẽ được ghi nhận vào chi phí quản lý, làm giảm lợi nhuận thì phương án phát hành ESOP, do không ghi nhận chi phí, việc này sẽ giúp doanh nghiệp giữ được kết quả lợi nhuận cao hơn, số liệu tài chính theo đó cũng "đẹp hơn".

2. Hạn chế của chương trình thưởng cổ phiếu cho người lao động ở nước ngoài và kiến nghị giải quyết.

Việc tặng cổ phần của các Cổ đông hiện hữu cho người lao động, xét về khía cạnh pháp lý là một phương án khá an toàn cho Công ty vì chỉ là giao dịch dân sự giữa các cá nhân, các ràng buộc về thuế, chấp thuận của công ty không nhiều. Tuy nhiên, không phải Công ty nào cũng áp dụng được vì việc giữ chân người lao động là lợi ích chung của cả công ty, trong khi cổ đông tặng cho phải hy sinh lợi ích của cá nhân.

Công ty tặng cổ phần cho người lao động từ nguồn vốn của Công ty. Phương án này lại vướng phải một loạt các vấn đề khác như: Thiếu dòng tiền để bù đắp vào khoản vốn điều lệ tăng thêm của Công ty, dẫn đến rủi ro tăng vốn ảo: Bản chất của ESOP là người lao động được quyền mua một lượng cổ phiếu nhất định do công ty đại chúng phát hành thêm với giá bán thấp hơn giá thị trường tại một thời điểm phát hành hoặc người lao động được tặng cho một lượng cổ phiếu nhất định và số tiền chênh lệch giữa số tiền thực thu được từ Người lao động và giá trị cổ phần chào bán sẽ được các công ty đại chúng bù đắp từ các khoản thu hợp lệ.

Thực tế cho thấy, đối tượng được hưởng ESOP là những người lao động, đáp ứng các tiêu chuẩn được tham gia chương trình được ĐHĐCĐ thông qua hoặc ủy quyền cho Hội đồng quản trị thông qua. Như vậy, có thể nhận thấy những đối tượng này sẽ được lựa chọn, xác định tùy theo các quy định nội bộ của Công ty. Cổ phiếu ESOP có thể bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích bởi một kế hoạch phát hành thiếu minh bạch đó từ ban lãnh đạo công ty. Thông qua ESOP, ban lãnh đạo có thể hợp pháp hóa việc “móc túi” cổ đông để tăng tỷ lệ sở hữu cổ phần và trục lợi bằng việc đưa tên mình hay những nhân viên là người thân cận vào danh sách những người lao động được lựa chọn.

Ví dụ: Công ty CP Thế giới Di động (MWG) liên tiếp phát hành cổ phiếu ESOP cho lãnh đạo và nhân viên khiến không ít nhà đầu tư phàn nàn lên tiếng. Tháng 4 vừa qua, MWG phát hành 9,32 triệu cổ phiếu ESOP 2020 cho lãnh đạo chủ chốt của công ty và công ty con. Số cổ phiếu này tương đương với 2,2% số lượng cổ phiếu đang lưu hành, thời hạn chuyển nhượng 4 năm.

Hiện theo các quy định tại pháp luật Việt Nam về phát hành cổ phiếu ESOP thì đang còn sơ sài, quy định mang tính chung chung và thường đẩy cho các Công ty tự điều chỉnh, xử lý. Vậy nên, cần phải có các quy định ràng buộc chặt chẽ liên quan đến việc đưa ra các tiêu chí đánh giá, người được hưởng ESOP, như số năm tối thiểu phải cống hiến để chính thức sở hữu loại cổ phiếu này; tỉ lệ được hưởng cổ phiếu này. Đối với các Công ty đại chúng thì bộ hồ sơ khi ESOP phải được UBCK xem xét, chấp thuận trên cơ sở giải trình của Công ty phát hành.

Khi cần thực hiện dịch vụ, Quý Khách hàng có thể liên lạc với Luật Hoàng Anh qua những phương thức tư vấn sau:

- Tư vấn qua điện thoại: Quý Khách hàng vui lòng gọi điện thoại đến số hotline: 0908 308 123 để được Luật sư tư vấn qua điện thoại.

- Tư vấn qua thư điện tử (email): Quý Khách hàng vui lòng gửi email cùng các hồ sơ, tài liệu liên quan (nếu có) đến địa chỉ thư điện tử luatsu@luathoanganh.vn để được tư vấn, phản hồi qua thư điện tử.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Vi phạm quy định về chào bán, phát hành chứng khoán riêng lẻ bị xử phạt vi phạm hành chính như thế nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 27/09/2021

Vi phạm quy định về chào bán, phát hành chứng khoán riêng lẻ bị xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 8 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP

Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 28/09/2021

Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh được quy định tại Điều 4 Nghị định 158/2020/NĐ-CP

Hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 28/09/2021

Hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh được quy định tại Điều 5 Nghị định 158/2020/NĐ-CP

Điều kiện được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 28/09/2021

Điều kiện được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh được quy định tại Điều 9 Nghị định 158/2020/NĐ-CP

Hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 28/09/2021

Hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh được quy định tại Điều 10 Nghị định 158/2020/NĐ-CP

Đình chỉ hoạt động kinh doanh chứng khoán phái sinh trong trường hợp nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 28/09/2021

Các trường hợp đình chỉ hoạt động kinh doanh chứng khoán phái sinh theo quy định tại Điều 6 nghị định 158/2020/NĐ-CP

Đình chỉ, khôi phục hoạt động cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 28/09/2021

Đình chỉ, khôi phục hoạt động cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh được quy định tại Điều 11 Nghị định 158/2020/NĐ-CP

Quy định về chấm dứt hoạt động kinh doanh chứng khoán phái sinh?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 28/09/2021

chấm dứt hoạt động kinh doanh chứng khoán phái sinh trong hai trường hợp: chấm dứt tự nguyện và chấm dứt bắt buộc theo ĐIều 7, Điều 8 Nghị định 158/2020/NĐ-CP