Công bố thông tin sai lệch trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán bị xử lý như thế nào?

Công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán được hiểu là hành vi công bố thông tin không đúng với nội dung, số liệu thật hoặc cố ý không đưa ra nội dung số liệu thật liên quan đến việc chào bán,niêm yết, giao dịch, hoạt động kinh doanh chứng khoán, tổ chức thị trường, đăng ký, lưu ký, bù trừ hoặc thanh toán chứng khoán.

- Cố ý công bố thông tin sai lệch trong hoạt động chứng khoán là việc người phạm tội đã công bố thông tin sai sự thật liên quan đến hoạt động của công ty đại chúng, tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch, công ty chứng khoán, ăn công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán công bố thông tin không đúng với thông tin trong hồ sơ chào bán chứng khoán, hồ sơ đăng ký niêm yết, giao dịch chứng khoán, hồ sơ đề nghị cấp, bổ sung giấy phép thành lập và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, hồ sơ đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán.

- Che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán là việc người phạm tội không công bố hoặc quý không công bố đầy đủ các thông tin trong hồ sơ chào bán chứng khoán,hồ sơ đăng ký niêm yết giao dịch chứng khoán, Hồ sơ đề nghị cấp, bổ sung giấy phép thành lập và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán; sơ đăng ký, lưu ký, bù và thanh toán chứng khoán.

Theo Khoản 5 Điều 42 nghị định 156/2020/NĐ-CP quy định về hành vi công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cụ thể như sau:

“5. Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán.”

Điều 209 Bộ Luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 1 Điều 2 Bộ Luật Hình sự 2017 quy định về tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán như sau:

“Điều 209. Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán

1. Người nào cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chào bán, niêm yết, giao dịch, hoạt động kinh doanh chứng khoán, tổ chức thị trường, đăng ký, lưu ký, bù trừ hoặc thanh toán chứng khoán thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;

b) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

c) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên;

c) Gây thiệt hại cho nhà đầu tư 3.000.000.000 đồng trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;

c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”

Theo Khoản 1 nêu trên thì khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Theo Khoản 2 nêu trên thì khung hình phạt tăng nặng thứ nhất là phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 02 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

- Có tổ chức: Đây là trường hợp đồng phạm cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán mà trong đó có sự cấu két chặt chẽ giữa những người đồng phạm;

- Thu lợi bất chính 01 tỳ đồng trở lên: Đây là trường hợp phạm tội mà người phạm tội đã thu về khoản lợi bất chính là 01 tỷ đồng trở lên;

- Gây thiệt hại cho nhà đầu tư 03 tỷ đồng trở lên: Đây là trường hợp phạm tội đã gây ra thiệt hại cho nhà đầu tư 03 tỷ đồng trở lên;

- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu của tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 53 BLHS.

Theo Khoản 3 nêu trên thì khung hình phạt bổ sung (có thể áp dụng đối với người phạm tội) là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo Khoản 4 nêu trên thì khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:

- Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 02 tỷ đồng;

- Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 2 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 02 tỷ đồng đến 05 tỷ đồng;

Pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Luật chứng khoán.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Đối tượng nào bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 25/09/2021

Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo Điều 2 Nghị định 156/2020/NĐ-CP

Hồ sơ chào bán trái phiếu riêng lẻ tại thị trường trong nước gồm những tài liệu gì?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 25/09/2021

Hồ sơ chào bán trái phiếu riêng lẻ tại thị trường trong nước theo quy định tại Điều 12 nghị định 153/2020/NĐ-CP

Hồ sơ và quy trình chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 25/09/2021

Hồ sơ và quy trình chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế

Nguyên tắc, điều kiện chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 25/09/2021

Nguyên tắc, điều kiện chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế tại Điều 24, Điều 25 Nghị định 153/2020/NĐ-CP

Phương án phát hành trái phiếu riêng lẻ tại thị trường trong nước?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 25/09/2021

Phương án phát hành trái phiếu riêng lẻ tại thị trường trong nước quy định tại Điều 13 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP

Quy trình chào bán trái phiếu riêng lẻ tại thị trường trong nước?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 25/09/2021

Quy trình chào bán trái phiếu riêng lẻ tại thị trường trong nước theo quy định tại Điều 11 Nghị định 153/2020/NĐ-CP

Sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán bị xử lý như thế nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 25/09/2021

Sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán bị xử lý theo quy định của luật chứng khoán và Bộ luật hình sự

Ai có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 27/09/2021

thẩm quyền XP VPHC của Chánh Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Chủ tịch UBND cấp tỉnh