Biện pháp Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là gì?

Điều 46 Bộ luật hình sự đã liệt kê các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội. Trong đó, biện pháp “Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm” được áp dụng với cả hai đối tượng là người và pháp nhân thương mại phạm tội. Trong bài viết dưới đây, Luật Hoàng Anh sẽ làm rõ nội dung của biện pháp tư pháp này.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 47 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự)

“Điều 47. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

1. Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với:

a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội;

c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.

2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

3. Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu.”

2. Nội dung quy định tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

Điều 47 Bộ luật hình sự quy định “Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm” là tịch thu tịch thu vật, tiền để sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy, gồm 03 nội dung sau:

Thứ nhất, đối tượng bị thu là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; vật, tiền do phạm tội hoặc do mua bán, trao đổi các thứ mà có; khoản thu lợi bất chính do phạm tội mà có; vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành như mà túy, pháo nổ, hàng giả, văn hóa phẩm đồi trụy...

Thứ hai, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

Thứ ba, vật, tiền là tài sản của người khác, có thể bị tịch thu nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm. Đây không phải là trường hợp đương nhiên bị áp dụng biện pháp tư pháp như đối với các mục được nhà làm luật liệt kê tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Việc có tịch thu hay không cần phải được xem xét, đối chiếu dựa trên nhiều yếu tố khác nhau để từ đó mới ra quyết định cuối cùng về việc tịch thu hay không tịch thu.Trên thực tế, hiện tượng này thường xảy ra do lỗi thiếu trách nhiệm trong việc quản lý tài sản của người đó.

Như vậy, tịch thu vật, tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm không những loại bỏ điều kiện vật chất của tội phạm mà còn góp phần cải tạo, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa tội phạm, ổn định và đảm bảo trật tự xã hội.

Luật Hoàng Anh

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Pháp luật hình sự quy định như thế nào về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Pháp luật hình sự quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 27 BLHS

Người gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của chỉ huy hoặc cấp trên có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Người gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của chỉ huy hoặc cấp trên được miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 26 BLHS

Hình phạt trong pháp luật hình sự có mục đích gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Hình phạt trong pháp luật hình sự có 03 mục đích: răn đe, giáo dục riêng và giáo dục chung