BLTTHS 2015 quy định như thế nào về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố?

Để khắc phục tình trạng người bị tố giác, bị tin báo, bị kiến nghị khởi tố khi được Cơ quan Điều tra triệu tập lên làm việc, lấy lời khai, giải trình và cung cấp hồ sơ nhưng không nhận được sự hỗ trợ, tư vấn pháp lý của Luật sư. Chính vì vậy, Điều luật TTHS 2015 đã sửa đổi bổ sung, đây là một trong những quy định rất mới, thể hiện bước chuyển nhận thức về sự cần thiết bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tình nghi hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật phát sinh từ việc tố giác, tố cáo của công dân, phản ánh qua báo chí hay từ kiến nghị sau các cuộc thanh tra, kiểm tra của cơ quan chức năng đối với doanh nghiệp. Quy định này tháo bỏ rào cản trong quan niệm cho rằng, chỉ khi vụ án bị khởi tố, người bị tình nghi bị bắt, bị tạm giữ thì mới phát sinh nhu cầu bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích. Nó cũng mở rộng giai đoạn tham gia của Luật sư và những người bào chữa khác trước khi vụ án được khởi tố, tạo điều kiện cho họ được thu thập, đánh giá và trợ giúp cho người bị tình nghi phạm tội trình bày các chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Chính sự tham gia từ rất sớm trước khi tố tụng hình sự được khởi động đã cho phép nhìn nhận một cách rõ ràng hơn nguyên tắc tranh tụng không chỉ đảm bảo tại phiên tòa mà nó được thể hiện ngay từ giai đoạn “tiến tố tụng” và người bào chữa, bảo vệ quyền lợi có cơ hội phản biện tranh tụng với bên buộc tội.

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 83 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố được quy định như sau:

“Điều 83. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố

1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người được người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có thể là:

a) Luật sư;

b) Bào chữa viên nhân dân;

c) Người đại diện;

d) Trợ giúp viên pháp lý.

3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền:

a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

b) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

c) Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

d) Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

đ) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có nghĩa vụ:

a) Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án;

b) Giúp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.”

2. Quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Theo quy định tại Điều 59 BLTTHS 2003 thì chỉ có những người tham gia tố tụng như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự mới có quyền nhờ Luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình. Tuy nhiên, bên cạnh những người tham gia tố tụng, còn những đối tượng khác tham gia vào hoạt động “tiền tố tụng” như người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ dễ có khả năng bị xâm hại, nếu không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ.

Theo định nghĩa nêu trong Điều 3 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02-8-2013 của liên ngành Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và PTNT, tố giác tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết. Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết. Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm và có văn bản kiến nghị Cơ quan Điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những đối tượng này, BLTTHS 2015 đã quy định quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố trong việc mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Đây là một quy định mới được đưa vào BLTTHS. Việc bổ sung “người bị tố giác”, “người bị kiến nghị khởi tố” (thường được gọi là nghi phạm trong giai đoạn tiền tố tụng) có quyền nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã khắc phục được tình trạng nhiều cá nhân bị Cơ quan Điều tra triệu tập để lấy lời khai, thực hiện một số biện pháp như tạm giữ người quan đêm, thu giữ hộ chiếu và ngăn chặn xuất cảnh, cấm đi khỏi nơi cứ trú…, nhưng lại không được sự hỗ trợ về mặt pháp lý của người bào chữa, đặc biệt là Luật sư.

Tương tự như người bào chữa cho người bị buộc tội, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có thể là một trong các đối tượng sau: Luật sư; Bào chữa viên nhân dân; Người đại diện; Trợ giúp viên pháp lý. Trong đó, người đại diện ở đây được hiểu là người đại diện theo pháp luật của người bị tình nghi hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nêu trên khi được khách hàng yêu cầu, chỉ cần xuất trình Thẻ luật sư và văn bản yêu cầu của khách hàng với Cơ quan Điều tra , không phải làm thủ tục như quy định tại Điều 78 BLTTHS 2015.

Thứ nhất, Quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố được Điều luật quy định như sau:

- Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Và trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc bảo đảm thực hiện quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật được quy định tại Điều 15 Thông tư 46/2019/TT-BCA:

“Người bào chữa thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và giao cho Cơ quan đang thụ lý vụ án thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải lập biên bản giao nhận, đưa vào hồ sơ vụ án, vụ việc. Trường hợp phát hiện người bào chữa thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác hoặc tiết lộ bí mật điều tra thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, Cơ quan đang thụ lý vụ án phải nhắc nhở, nếu vi phạm nghiêm trọng thì có biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đưa ra yêu cầu, nếu thấy yêu cầu có liên quan đến việc bào chữa hoặc liên quan đến việc giải quyết vụ án, vụ việc thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra lập biên bản ghi nhận yêu cầu của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.”

- Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

- Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

- Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

 Thứ hai, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có các nghĩa vụ sau đây:

- Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án;

- Giúp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Và thời điểm tham gia tố tụng, thủ tục đăng ký, thủ tục thay đổi hủy bỏ việc đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 7, Điều 9, Điều 10 Thông tư 46/2019/TT-BCA:

“Điều 7. Thời điểm người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố tham gia tố tụng

Thời điểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố tham gia tố tụng kể từ khi có Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và có căn cứ xác định tư cách tham gia tố tụng của bị hại, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.”

“Điều 9. Thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố

1. Khi đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố phải xuất trình các giấy tờ:

a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy nhờ Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

b) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;

c) Người đại diện của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

2. Trực ban hình sự của Cơ quan điều tra hoặc trực ban hình sự của từng đơn vị điều tra (trong trường hợp không tổ chức trực ban hình sự chung), trực ban các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Khi nhận được hồ sơ đăng ký, đối với Cơ quan điều tra tổ chức trực ban hình sự chung thì cán bộ trực ban hình sự có trách nhiệm ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm nhận vào sổ trực ban hình sự, chuyển ngay cho đơn vị thụ lý vụ việc, vụ án để đóng dấu văn bản đến và giao ngay cho Điều tra viên được phân công giải quyết vụ án, vụ việc. Đối với đơn vị điều tra tổ chức trực ban hình sự riêng, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cán bộ trực ban hình sự có trách nhiệm đóng dấu văn bản đến, ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm nhận và chuyển ngay cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra được phân công giải quyết vụ án, vụ việc.

Điều tra viên, Cán bộ điều tra có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ. Trường hợp hồ sơ bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận, Điều tra viên, Cán bộ điều tra có trách nhiệm trình Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (khi được Thủ trưởng phân công hoặc ủy quyền), Cấp trưởng, Cấp phó cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ký Thông báo về việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và vào sổ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Trường hợp hồ sơ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chưa bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra thông báo cho người đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp biết để bổ sung hồ sơ.

Trường hợp có căn cứ từ chối việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc có trách nhiệm thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.”

“Điều 10. Thay đổi, hủy bỏ việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố

1. Văn bản thông báo người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ trường hợp bị hại, đương sự đề nghị thay đổi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Văn bản thông báo người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có giá trị trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, trừ trường hợp người bị tố giác, kiến nghị khởi tố đề nghị thay đổi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trường hợp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đã được cơ quan có thẩm quyền có văn bản thay đổi tư cách tham gia tố tụng, nếu thuộc diện được nhờ người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành các thủ tục đăng ký bào chữa theo quy định tại Chương II Thông tư này.

Việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong trường hợp thay đổi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều 9 Thông tư này.

2. Cơ quan đang thụ lý vụ án hủy bỏ việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố vi phạm pháp luật khi tiến hành bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi hủy bỏ việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc có trách nhiệm thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do hủy bỏ cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người thực hiện nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.”

Việc quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố là quy định mới quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống oan, sai trong tố tụng hình sự. Đồng thời, quy định này cũng bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố được bảo vệ tốt nhất.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

BLTTHS 2015 quy định chứng cứ như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày về chứng cứ trong quá trình hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của BLTTHS 2015.

Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày các quy định của pháp luật hiện hành về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt

BLTTHS 2015 quy định về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự theo quy định của BLTTHS 2015.

Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về người làm chứng?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày các quy định hiện hành về người làm chứng