Bộ luật tố tụng hình sự quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật như thế nào?

Trong xã hội hiện nay, mọi người mỗi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật. Đây là một trong những nguyên tắc Hiến định được quy định tại Điểu 16 Hiến pháp 2013 và được phát triển và cụ thể hóa trong lĩnh vực tố tụng hình sự và được quy định cụ thể tại Điều 9 BLTTHS năm 2015. Nguyên tắc này xác định vị trí như nhau của mọi cá nhân, công dân, pháp nhân trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, cũng như việc khi tham gia quan hệ tố tụng hình sự, không có sự ưu đãi, ưu tiên, phân biệt đối xử theo các dấu hiệu nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội hình thức sở hữu, thành phần kinh tế.

1. Cơ sở pháp lý

Tại Điều 9 BLTTHS năm 2015 quy định:

 “Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.”

Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.”

2. Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật

Từ quy định trên ta có thể rút ra được một số điểm nổi bật như sau:

Thứ nhất, mọi người dù là cá nhân hay pháp nhân đều được bình đẳng trong việc áp dụng chính sách hình sự, đường lối và xử lý hành vi phạm tội.

Bất kỳ người nào phạm tội cho dù họ là ai, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, thành phần xã hội, địa vị xã hội, bất kỳ pháp nhân nào cũng không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế thì đều xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự quy định. Pháp luật không có quy định riêng về chính sách, đường lối xử lý trách nhiệm hình sự cho từng cá nhân hay một pháp nhân cụ thể nào khác, tài sản, địa vị xã hội không mang lại đặc quyền cho bất cứ ai, bất cứ pháp nhân thương mại nào trước tòa án công lý và pháp luật. Đây là một trong những yếu tố quan trọng và cốt lõi của pháp luật nước ta khi quy định về quyền bình đẳng của mỗi cá nhân hay pháp nhân trong quá trình áp dụng chính sách hình sự. Bởi lẽ, ngày nay quyền con người là một yếu tố vô cùng quan trọng, nước ta cũng luôn luôn đi theo định hướng xây dựng một nhà nước pháp quyền, Nhà nước: “Của dân, do dân, vì dân”. Chính vì vậy, mọi công dân chính là gốc cho sự phồn thịnh và phát triển của đất nước. Quyền con người song song với quyền họ được sống trong một xã hội bình đẳng, đặc biệt trong bộ luật tố tụng hình sự cũng không ngoại lệ. Khi một cá nhân phạm tội, họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước pháp luật cho dù người đó là dân tộc nào, giới tính , tín ngưỡng và tôn giáo của họ ra sao và địa trong xã hội của họ như thế nào đi nữa, thì họ đều phải chịu trách nhiệm giống nhau, theo phương thức ngang bằng, không có sự thiên vị, trên dưới hay về các pháp nhân thương mại cũng không ngoại lệ, họ cũng đều có quyền bình đẳng như nhau, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ cho các hoạt động tự do kinh doanh, tự do phát triển kinh doanh hoạt động thương mại, tuy nhiên họ cũng phải chịu sự quản lý của luật hình sự, tất cả các pháp nhân dù lớn hay nhỏ không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế cũng đều phải chịu trách nhiệm hình sự giống nhau, nếu họ có những hành vi gian dối, vi phạm các hoạt động trong kinh doanh thương mại mà được Bộ luật hình sự quy định thì họ đều phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và pháp luật.

Thứ hai, mọi người đều có quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự với tư cách tố tụng đã được xác định mà không có bất cứ sự phân biệt nào.

Cá nhân, pháp nhân thương mại đều có quyền và nghĩa vụ như nhau khi tham gia vào quá trình tiến hành tố tụng hình sự. Cụ thể, nếu họ tham gia với tư cách là bị can thì họ sẽ có quyền và nghĩa vụ được quy định cụ thể tại Điều 60 của BLTTHS năm 2015:

“1. Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này.

2. Bị can có quyền:

a) Được biết lý do mình bị khởi tố;

b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

c) Nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;

d) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

g) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

h) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;

i) Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu;

k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.”

3. Bị can có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã;

b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.”

Hoặc nếu họ tham gia trong quá trình tố tụng với tư cách là bị cáo thì sẽ được quy định  cụ thể tại Điều 61 BLTTHS năm 2015 quy định về quyền và trách nhiệm của bị cáo. Như vậy, tùy vào tư cách khi tham gia vào quá trình tố tụng hình sự dẫn đến họ có những quyền và nghĩa vụ riêng, nhưng những quyền và nghĩa vụ này không chỉ áp dụng riêng cho một cá nhân mà nó được áp dụng cho tất cả mọi người, nếu trong trường hợp họ có dấu hiệu hành vi phạm tội thì sẽ đều bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng những quy định trên theo quy định của BLTTHS năm 2015, qua đó ta thấy pháp luật tố tụng hình sự nước ta không có quy định ngoại lệ về quyền và nghĩa vụ tố tụng cho bất kỳ người, pháp nhân thương mại nào khi tham gia tố tụng nếu họ có cùng tư cách tố tụng với người, pháp nhân thương mại tham gia tố tụng khác.

Cuối cùng, trong quá trình tham gia vào tố tụng hình sự, mọi người đều được bình đẳng về trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, với vai trò là cơ quan,người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, các cơ quan và người tiến hành tố tụng phải đảm bảo nguyên tắc giải quyết vụ án theo một trình tự, thủ tục thống nhất đối với các vụ án. Việc giải quyết các vụ án hình sự được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định mang tính bắt buộc do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, không có sự đảo trộn giữa các quy trình thủ tục trong giải quyết vụ án. Và không có những ngoại lệ về thủ tục tố tụng đối với bất kỳ cá nhân nào nếu họ tham gia tố tụng với cùng một tư cách.

Việc quy định thủ tục khác nhau trong việc bắt tạm giam, truy tố và xét xử đối với một số đối tượng nhất định như đại biểu dân cử, người dưới 18 tuổi, thì hoàn toàn không mâu thuẫn với nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Hiến pháp quy định không có sự đồng ý của Quốc Hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ quốc hội, thì không được bắt giam, truy tố Đại biểu Quốc Hội và mục đích của Bộ luật tố tụng hình sự là tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho việc điều tra, truy tố và xét xử. Chính vì vậy, ở đây không có một nhóm người nào, nhóm pháp nhân nào được hưỡng những đặc quyền nào đó trước pháp luật và cũng không phải chịu hạn chế của pháp luật nào đó.

Quyền bình đẳng trước pháp luật trên các phương diện nói trên không chỉ áp dụng cho mỗi cá nhân mà còn áp dụng đối với cả pháp nhân. Pháp nhân, phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân được thực hiện theo đúng thủ tục tại Chương XXIX BLTTHS năm 2015 về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân và được áp dụng chung cho tất cả pháp nhân nếu họ có những vi phạm mà BLHS coi đó là tội phạm.

So sánh với Điều 5 BLTTHS năm 2003 so với BLTTHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung, ta thấy Điều luật này cơ bản đã kế thừa và chỉnh lý theo hướng mở rộng hơn, thay “Mọi công dân” thành “Mọi người” mở rộng hơn về đối tượng chủ thể, không chỉ áp dụng riêng cho công dân Việt Nam mà còn áp dụng cả cho những công dân nước ngoài. Ngoài ra, BLTTHS 2015 đã mở rộng và bổ sung thêm nguyên tắc: Không chỉ có cá nhân mà ngay cả pháp nhân cũng đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.

Như vậy, quyền bình đẳng là một trong những quyền thiêng liêng, được ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong đời sống xã hội và đời sống pháp lý. Xây dựng và bảo vệ quyền bình đẳng trước pháp luật là một giá trị pháp luật quan trọng, là mục tiêu phấn đấu của loài người, Vì vậy Bộ luật TTHS năm 2015 cũng đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp; là công cụ pháp lý quan trọng trong đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.

 

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Các biện pháp tư pháp là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Các biện pháp tư pháp quy định tại Điều 46 BLHS

Hình phạt tịch thu tài sản là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Hình phạt tịch thu tài sản quy định tại Điều 45 BLHS

Thế nào là tái phạm, tái phạm nguy hiểm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 01/07/2021

Tái phạm, tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 53 BLHS