Các căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định mới của bộ luật hình sự 2015?

Như chúng ta đã biết, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự đối với (các) hành vi phạm tội do mình gây ra. Vậy trong trường hợp nào thì người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự? Việc được miễn trách nhiệm hình sự đòi hỏi những điều kiện gì? Cùng làm sáng tỏ vấn đề này trong bài viết dưới đây.

Chế định miễn trách nhiệm hình sự là một chế định thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với hành vi phạm tội do người phạm tội thực hiện, nhằm động viên, khích lệ người phạm tội ăn năn, hối cải, nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, trở thành những người có ích cho xã hội. Điều 29 Bộ luật hình sự 2015 quy định về các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự, như sau:

1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi có quyết định đại xá.

2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

3. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”

Thông qua các quy định về căn cứ được miễn trách nhiệm hình sự, có thể thấy rõ, hai trường hợp người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự có tính chất bắt buộc và một số trường hợp người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự có tính chất tùy nghi.

Đầu tiên, người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Đây là trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất bắt buộc và được áp dụng cho tất cả các loại tội phạm khi có đủ căn cứ pháp lý. Căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp này là sự thay đổi về chính sách, về pháp luật làm cho hành vi đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

Thứ hai, người phạm tội được miễn trách nhiệm khi có quyết định đại xá. Đây cũng là một trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự có tính chất bắt buộc. Khoản 11 Điều 70 Hiến pháp 2013 quy định thẩm quyền đại xá do Quốc hội quyết định, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội. Căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp này là văn bản đại xá do Quốc hội ban hành.

Thứ ba, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Đây là trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính tùy nghi, không có tính bắt buộc, vì vậy có những quan điểm khác nhau khi áp dụng.

Thứ tư, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự do người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Đây là điểm mới thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật hình sự Việt Nam. Việc đánh giá một người không còn nguy hiểm cho xã hội nữa phải căn cứ vào nhiều yếu tố, phải khách quan toàn diện và hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Đây là trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất tùy nghi.

Thứ năm, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự do trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận. Trong trường hợp này người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau: Người phạm tội tự thú đã đến cơ quan có thẩm quyền khai báo hành vi phạm tội của mình khi chưa bị phát hiện; khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm tức là khai đầy đủ tất cả hành vi phạm tội của mình cũng như hành vi của đồng phạm, không giấu giếm bất kỳ một tình tiết nào; người phạm tội cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm như trả lại tài sản đã chiếm đoạt, thông báo kịp thời cho người bị hại biết những gì đang đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự hoặc tài sản; lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận, đây là trường hợp người phạm tội đã có hành động giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình trạng hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể, cá nhân trong thiên tai, hỏa hoạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị hoặc thành tích đặc biệt xuất sắc khác được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thừa nhận.

Cuối cùng, người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Trường hợp này người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau: Thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tù đến 03 năm hoặc tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội  lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đến 07 năm tù, do lỗi vô ý; gây ra hậu quả làm thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác; tự nguyện hòa giải và người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.

Như vậy, có thể thấy, chế định miễn trách nhiệm hình sự khi áp dụng vào thực tiễn còn bộc lộ một số các quan điểm trái chiều như: Hiểu thế nào là sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; thế nào là chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo ở giai đoạn nào được xem là không còn nguy hiểm cho xã hội. Việc lập công như thế nào được xác định là lập công lớn. Cống hiến như thế nào là cống hiến đặc biệt được Nhà nước và xã hội công nhận. Hiện nay còn có những cách hiểu và áp dụng khác nhau, do vậy, các cơ quan lập pháp cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành chế định này, tạo sự thống nhất trong việc áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự trong thực tiễn.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Ý nghĩa của cấu thành tội phạm đối với việc nghiên cứu tội phạm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 27/04/2021

Cấu thành tội phạm là một thuật ngữ pháp lý quan trọng trong khoa học luật hình sự. Vậy việc nghiên cứu cấu thành tội phạm có ý nghĩa và vai trò như thế nào?

Khái niệm khách thể của tội phạm

Hỏi đáp luật Hình Sự 27/04/2021

Khách thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm, bao gồm chủ thể, khách thể, mặt chủ quan và mặt khách quan.

Phân biệt các loại khách thể của tội phạm

Hỏi đáp luật Hình Sự 27/04/2021

Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Vậy khách thể của tội phạm được chia thành mấy loại? Căn cứ để phân loại khách thể của tội phạm là gì?

Khái niệm, mục đích của hình phạt

Hỏi đáp luật Hình Sự 28/04/2021

Hình phạt là gì? Mục đích của Nhà làm luật khi đưa ra các loại hình phạt đối với các chủ thể phạm tội là gì?