Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là gì?

Hành vi của pháp nhân thương mại chỉ đủ yếu tố cấu thành tội phạm được nêu tại Bộ luật Hình sự khi và chỉ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện. Những điều kiện đó là gì? Luật Hoàng Anh sẽ làm rõ trong bài viết dưới đây.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 75 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại như sau:

Điều 75. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

2. Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.”

2. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Điều 75 Bộ luật Hình sự quy định 04 điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại như sau:

2.1. Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại

Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại nghĩa là hành vi được người đại diện theo pháp luật hoặc một cá nhân khác có thẩm quyền thực hiện bằng tư cách của pháp nhân mà không phải bằng tư cách cá nhân.

Ví dụ: A là giám đốc công ty, đại diện theo pháp luật của công ty sản xuất bánh kẹo X. Trong quá trình sản xuất bánh kẹo, A đã lấy danh nghĩa công ty X nhập khẩu 1 lô bánh kẹo kém chất lượng, đóng gói lại bao bì, nhãn hiệu công ty X và tung ra thị trường là sản phẩm công ty X sản xuất. Như vậy, trường hợp này công ty X là pháp nhân thương mại phạm tội.

Không phải mọi cá nhân đang làm việc và hoạt động tại pháp nhân đều có quyền nhân danh pháp nhân mà chỉ có những cá nhân theo luật định và theo quy định trong cơ cấu, tổ chức của pháp nhân mới đủ thẩm quyền nhân danh và từ đó làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ cho pháp nhân. Cụ thể theo quy định tại Điều 85 Bộ luật dân sự 2015 thì đại diện của pháp nhân được nêu như sau:

“Điều 85: Đại diện của pháp nhân

Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Người đại diện của pháp nhân phải tuân theo quy định về đại diện tại Chương IX Phần này”.

Xét về đại diện theo pháp luật của pháp nhân: Tùy theo từng loại hình pháp nhân mà có đại diện pháp luật tương ứng với những điều kiện cụ thể. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được thể hiện rõ nét nhất trong Điều lệ của pháp nhân đó và trên giấy chứng nhận đăng ký khi được Cơ quan có thẩm quyền cấp.

Xét về đại diện theo ủy quyền: Là trường hợp mà người đại diện theo pháp luật hay nói cách khác là người đại diện đương nhiên vì một lý do nào đó mà không thể thực hiện các công việc, giao dịch nhân danh pháp nhân nên ủy quyền lại cho một hoặc một số người nhất định để thực hiện một hoặc một số công việc, giao dịch trong phạm vi ủy quyền. Và đương nhiên khi nhận được sự ủy quyền từ người đại diện theo pháp luật của pháp nhân mà người được ủy quyền thực hiện công việc, giao dịch trong phạm vi được ủy quyền đều làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân mà mình nhân danh.

Chính vì vậy mà chỉ có những cá nhân có đủ thẩm quyền (đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền) mới được quyền nhân danh pháp nhân để thực hiện những hành vi nhất định

2.2. Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại

Khi một người hoặc một số người thực hiện hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại giao hoặc uỷ quyền đều vì lợi ích của pháp nhân thương mại chứ không vì lợi ích cá nhân của họ. Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội họ lại lợi dụng pháp nhân thương mại để thực hiện thêm hành vi vì lợi ích cá nhân thì chỉ hành vi nào vì lợi ích của pháp nhân thương mại mới buộc pháp nhân thương mại phải chịu, còn hành vi nào vượt ra ngoài lợi ích của pháp nhân thương mại mà vì lợi ích cá nhân họ thì họ phải chịu. Có thể nói, đây là một dạng hành vi “vượt quá của người thực hành” trong vụ án mà pháp nhân thương mại phạm tội.

Ví dụ, công ty X giao cho nhân viên A vận chuyển 1 số hàng cấm. Vì tiện đường nên A đã vận chuyển thêm một số hàng giả để mang ra thị trường tiêu thụ kiếm lời. Trên đường vận chuyển thì bị công an kiểm tra và bắt giữ. A vì quá sợ bị trừng phạt mà đã khai rằng số hàng giả đó cũng của công ty X. Sau khi xác minh, số hàng giả đó là của riêng A. Do vậy, công ty X chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vận chuyển hàng cấm và không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số hàng giả trên xe.

2.3. Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại

Hành vi phạm tội của một hoặc một số người phải có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Sự chỉ đạo điều hành là sự chỉ đạo của những người đứng đầu hoặc của một tập thể pháp nhân thương mại như: Giám đốc, Tổng giám đốc, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc của công ty. Sự chỉ đạo, điều hành này cũng tương tự như trường hợp phạm tội có tổ chức mà người tổ chức là người chỉ đạo điều hành mọi hành vi của tất cả các đồng phạm khác. Ngoài sự chỉ đạo, điều hành của những người nhân danh pháp nhân thương mại còn có trường hợp tuy không có sự chỉ đạo, điều hành nhưng lại có sự chấp thuận của những người đứng đầu pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội cũng là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại.

Về hình thức biểu hiện: việc chỉ đạo được biểu hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau như lời nói, văn bản (Biên bản họp, Nghị quyết, thư điện tử,...) hoặc có thể chỉ đạo ngầm qua hành vi, cử chỉ nhất định mà chỉ có những cá nhân thân cận mới có thể nắm bắt được.

2.4. Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định trên, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới quy định tại Điều 165 BLHS

Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân quy định tại Điều 163 BLHS

Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác quy định tại Điều 164 BLHS

Hình phạt phạt tiền đối với pháp nhân thương mại quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 06/07/2021

Hình phạt phạt tiền đối với pháp nhân thương mại quy định tại Điều 77 BLHS