Đối tượng nào bị quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm?

Trung tâm quản lý sau cai nghiện (gọi tắt là Trung tâm) là đơn vị do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) thành lập để thực hiện công tác quản lý sau cai nghiện đối với người đã hoàn thành thời gian cai nghiện ma túy bắt buộc nhưng có nguy cơ tái nghiện cao.

Các đối tượng sau cai nghiện có khả năng tái nghiện cao và gây nguy hiểm cho xã hội cần phải được quản lý chặt chẽ tại Trung tâm, không thể áp dụng biện pháp quản lý tại nơi cư trú vì biện pháp này có tính kiểm soát không cao và dễ tạo điều kiện thuận lợi cho người sau cai nghiện tái nghiện và có những hành vi vi phạm pháp luật nếu không nghiêm túc chấp hành.

Các đối tượng bị áp dung biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm được quy định chi tiết tại Chương 3 Nghị định 94/2009/NĐ-CP ngày 26/10/2009 của Chính phủ.

1. Đối tượng áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm

Điều 17 Mục 1 Nghị định 94/2009/NĐ-CP ngày 26/10/2009 của Chính phủ quy định biện pháp quản lý sau cai nghiện được áp dụng với các đối tượng sau:

Các đối tượng bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm là người đã hoàn thành xong thời gian cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện bắt buộc (Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội), có nguy cơ tái nghiện cao, bao gồm:

- Người sau cai nghiện có thời gian nghiện ma túy từ 5 năm trở lên hoặc sử dụng ma túy với hình thức tiêm chích từ 02 năm trở lên.

Việc xác đinh thời gian nghiện của người nghiện ma túy căn cứ vào hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội.

- Người nghiện ma túy đã cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội từ ba lần trở lên.

- Trong thời gian sáu tháng, đối tượng có hành vi vi phạm nội quy, quy chế của Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội bị thi hành kỷ luật với hình thức cảnh cáo từ ba lần trở lên hoặc với hình thức cách ly tại phòng kỷ luật từ 2 lần trở lên.

Việc xác định người cai nghiện trong thời gian 6 tháng có hành vi vi phạm nội quy, quy chế của cơ sở cai nghiện bắt buộc căn cứ vào hành vi của họ trong 6 tháng cuối tại cơ sở cai nghiện bắt buộc (hướng dẫn tại Thông tư số 34/2014/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2014).

- Người nghiện ma túy không có nghề nghiệp; có nghề nghiệp nhưng không có việc làm ổn định trước khi vào cơ sở cai nghiện ma túy; không có nơi cư trú nhất định.

Việc xác định tình trạng nghề nghiệp, việc làm và nơi cư trú của học viên trước khi vào cơ sở cai nghiện ma túy được thực hiện như sau: Giám đốc cơ sở cai nghiện ma túy căn cứ thông tin ghi tại Bản tóm tắt lý lịch của người nghiện ma túy (được ban hành kèm theo Thông tư số 14/2014/TT-BLĐTBXH ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) để xác định.

2. Các đối tượng không bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 17 Nghị định 94/2009/NĐ-CP ngày 26/10/2009 của Chính phủ, các cơ quan có thẩm quyền quyết định không áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm với các đối tượng sau:

- Người đã hoàn thành thời gian cai nghiện ma túy bắt buộc, có nguy cơ tái nghiện cao như đã phân tích ở trên nhưng không đủ sức khỏe để học nghề, lao động sản xuất.

- Người sau cai nghiện ma túy bị bệnh AIDS giai đoạn cuối.

Việc xác định tình trạng sức khỏe của người sau cai nghiện được hướng dẫn thực hiện tại Thông tư số 34/2014/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2014 như sau:

+ Trong thời hạn 6 tháng trước khi hết thời hạn chấp hành quyết định, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc phải tổ chức khám sức khỏe cho học viên cai nghiện (gọi tắt là học viên)

+ Việc khám sức khỏe thực hiện theo Thông tư số 14/2013/TT-BYT ngày 06 tháng 5 năm 2013 của Bộ Y tế về hướng dẫn khám sức khỏe (sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 41/2017/TT-BYT ngày 09/11/2017 của Bộ Y tế).

- Người có thời gian cai nghiện ma túy từ 5 năm trở lên hoặc sử dụng ma túy với hình thức tiêm chích từ 02 năm trở lên nhưng trong thời gian cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc có ý thức chấp hành kỷ luật, học tập, rèn luyện tốt.

Việc xác định ý thức chấp hành kỷ luật, học tập và rèn luyện của học viên tại cơ sở cai nghiện thực hiện như sau:

Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc căn cứ vào hồ sơ quản lý học viên để đánh giá việc chấp hành kỷ luật, học tập và rèn luyện của học viên tại cơ sở cai nghiện. Học viên có ý thức chấp hành kỷ luật, học tập và rèn luyện tốt là học viên trong quá trình chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc không vi phạm hình thức cảnh cáo trở lên.

3. Thời gian quản lý

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 94/2009/NĐ-CP ngày 26/10/2009 của Chính phủ về thời gian, độ tuổi thi hành quyết định quản lý sau cai nghiện:

- Thời gian quản lý sau cai nghiện đối với người chấp hành xong thời gian cai nghiện ma túy bắt buộc là từ 01 đến 02 năm.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy cơ tái nghiện cao của từng đối tượng như đã phân tích ở trên, người có thẩm quyền quyết định quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thời gian quản lý sau cai nghiện đối với từng trường hợp cụ thể.

- Không áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện đối với nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Các trường hợp nào được hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 27/06/2021

Các trường hợp được hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm được quy định tại Điều 23 Nghị định 94/2009/NĐ-CP ngày 26/10/2009