Hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự được quy định như thế nào?

Hiệu lực của Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là tính bắt buộc thi hành của văn bản quy phạm pháp luật trong một giai đoạn nhất định, trên một không gian nhất định và đối với những chủ thế pháp luật nhất định (cá nhân, cơ quan, tổ chức).

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 3 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) về hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự được quy định như sau:

“Điều 3. Hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự

1. Bộ luật tố tụng hình sự có hiệu lực đối với mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Trường hợp người nước ngoài thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc tập quán quốc tế thì được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì được giải quyết bằng con đường ngoại giao.”

2. Hiệu lực của Bộ Luật tố tụng hình sự (gọi tắt BLTTHS 2015) theo không gian.

Từ quy định trên ta thấy, đối với tội phạm do công dân Việt Nam thực hiện, mọi hoạt động tố tụng hình sự từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam đều phải thực hiện theo quy định trong bộ luật tố tụng 2015: “Bộ luật tố tụng hình sự có hiệu lực đối với mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Tại Điều 1 Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nêu rõ về lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:

“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam là phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam.

Ngoài ra, tại khoản 2 điều 3 BLTTHS 2015 quy định:

“Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.”

Đầu tiên chúng ta hiểu thế nào là: Người nước ngoài? Theo khoản 1 điều 3 Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014 thì: “ Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cứ trú tại Việt Nam”. Như vậy có thể hiểu: “Người nước ngoài là người không có quốc tịch tại Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch”. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014) thì quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam. Ngoài ra, bên cạnh hai nhóm đối tượng là công dân Việt Nam (mang quốc tịch Việt Nam) và người nước ngoài (mang quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam) còn có nhóm đối tượng nữa là người không quốc tịch. Đây là nhóm người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài.

Điều luật này quy định: Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Vậy “điều ước quốc tế” được hiểu như thế nào? Và thế nào là nguyên tắc “có đi có lại”? Theo điểm a, khoản 1, điều 2 Công ước viên năm 1969:

“Thuật ngữ “điều ước” dùng để chỉ một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì.”

Điều ước quốc tế” là văn bản pháp lý quốc tế, do các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, thông qua các quy phạm gọi là quy phạm điều ước. Điều ước quốc tế có thể là phổ cập hoặc không phổ cập, toàn cầu hoặc khu vực, đa phương hoặc song phương.

Nguyên tắc “ có đi có lại”: được hiểu là nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế, theo đó một quốc gia sẽ dành chế độ pháp lý nhất định, có thể là chế độ đãi ngộ quốc gia hoặc chế độ đãi ngộ tối huệ quốc hay một số quyền lợi nào đó cho thể nhân và pháp nhân một nước ngoài giống như chế độ pháp lý, những quyền lợi hoặc ưu đãi mà các thể nhân và pháp nhân của nước này cũng được hưởng ở nước ngoài đó”. Ta có thể hiểu cơ bản về nguyên tắc trên như sau: Lý do nguyên tắc có qua có lại được áp dụng trong BLTTHS năm 2015 là vì nhằm bảo hộ triệt để quyền, lợi ích chính đáng của công dân, pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài cũng như công dân, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam khi các chủ thể này tham gia vào các quan hệ tư pháp quốc tế. Quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ mà công dân, pháp nhân Việt Nam được quy định và đảm bảo thực thi ở nước ngoài tương ứng. Tùy theo quan hệ giữa Việt Nam và nước ngoài mà nguyên tắc có đi có lại thực chất hoặc hình thức sẽ được áp dụng.

Ví dụ: tại khoản 1 Điều 423 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (gọi tắt BLTTDS 2015) quy định:

“Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:

a) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự hành chính của Tòa án nước ngoài được quy định tại điều ước quốc tế mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

b) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại”.

Đặc biệt, trường hợp người nước ngoài thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc tập quán quốc tế thì được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế đó; trường hợp tập quán quốc tế không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì được giải quyết bằng con đường ngoại giao.”

Theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh số 25-L/CTN ngày 23/8/1993 về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam thì “Viên chức ngoại giao được hưởng quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được đối xử một cách trọng thị. Họ không thể bị bắt hoặc bị tạm giữ dưới bất cứ hình thức nào. Nhà nước Việt Nam thực hiện những biện pháp thích hợp để ngăn chặn hành vi xâm phạm thân thể, tự do và phẩm giá của viên chức ngoại giao”.  Hay theo Điều 17 Pháp lệnh số 25-L/CTN thì thành viên gia đình của viên chức ngoai giao, nhân viên hành chính kỹ thuật và thành viên gia đình họ không phải là công dân Việt Nam hoặc không phải là người thường trú tại Việt Nam cũng được hưởng những quyền ưu đãi, miễn trừ như viên chức ngoại giao nêu trên” sau “viên chức ngoại giao”.

Như vậy, trong trường hợp người thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên hoặc tập quán quốc tế thì được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

3. Hiệu lực của BLTTHS 2015 theo thời gian

Hiệu lực theo thời gian là giới hạn xác định thời điểm phát sinh và thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.

Theo BLTTHS 2015 thì:

+ Đối với những vụ án do cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số hoạt động điều tra, viện kiểm sát, Tòa án đang thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại BLTTHS số 19/2003/QH11 nhưng đến ngày 01/7/2016 chưa kết thúc thì thẩm quyền giải quyết tiếp tục được áp dụng theo quy định của BLTTHS năm 2003 cho đến khi kết thúc vụ án, còn các vấn đề khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

+ Đối với nhữn tin tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đang trong quá trình kiểm tra, xác minh nhưng đến ngày 01/7/2016 chưa kết thúc thì thời hạn giải quyết được tính theo thời hạn của BLTTHS năm 2015;

+ Đối với những bị can, bị cáo đang bị tạm giam theo quy định của BLTTHS năm 2003 nhưng đến ngày 01/7/2016 không được tạm giam theo quy định của BLTTHS năm 2015 hoặc thời hạn tạm giam vượt quá thời hạn theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì viện kiểm sát, tòa án quyết định huỷ bỏ biện pháp tạm giam đang áp dụng hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác theo quy định của BLTTHS năm 2015;

+ Đối với những vụ án hình sự do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đang tiến hành điều tra nhưng đến ngày 01/7/2016 chưa kết thúc điều tra thì thời hạn điều tra được thực hiện theo quy định của BLTTHS năm 2015;

+ Đối với những vụ án hình sự đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn nhưng đến ngày 01/7/2016 chưa kết thúc điều ưa, chưa quyết định việc truy tố hoặc chưa đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm thì thời hạn điều tra, truy tố, xét xử được tính theo thời hạn của BLTTHS năm 2015;

+ Đối với những bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị trước ngày 01/7/2016 và thuộc trường họp quy định tại khoản 2 Điều 456 của BLTTHS năm 2015 nhưng kể từ ngày 01/7/2016 mới xét xử thì áp dụng thủ tục rút gọn theo quyđịnh của BLTTHS năm 2015 để giải quyết;

+ Đối với những vụ án hình sự đã xét xử sơ thẩm theo quy định tại BLTTHS năm 2003 mà có kháng cáo, kháng nghị trước ngày 01/7/2016 nhưng kể từ ngày 01/7/2016 mới xét xử phúc thẩm thì áp dụng BLTTHS năm 2015 để giải quyết;

+ Đối với bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo quy định tại BLTTHS năm 2003 mà có kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01/7/2016 nhưng chưa giải quyết hoặc kể từ ngày 01/7/2016 mới có kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng BLTTHS năm 2015 để giải quyết;

+ Đối với những trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận người bào chữa theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì người bào chữa tiếp tục sử dụng cho đến khi kết thúc việc bào chữa.

Như vậy, BLTTHS năm 2015 đa thể chế hóa toàn diện chủ trương cải cách tư pháp của Đảng; cụ thể hóa Hiến pháp 2013, kế thừa, phát triển các quy định còn phù hợp và hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự nhằm bảo đảm tính thống nhất nội tại của BLTTHS và tính thống nhất trọng hệ thống pháp nước ta, tạo ra cơ chế hữu hiệu và hiệu quả.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Quy định pháp luật về việc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp?

Hỏi đáp luật Dân Sự 08/07/2021

Số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được thanh toán theo thứ tự ưu tiên

Các tội phạm sở hữu là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 08/07/2021

Các tội phạm sở hữu quy định tại Chương XVI BLHS

Nghĩa vụ của bên cầm cố là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 08/07/2021

Nghĩa vụ là những gì mà bên cầm cố phải thực hiện để đảm bảo cho quyền và lợi ích của bên nhận cầm cốv

Cầm cố tài sản là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 08/07/2021

Cầm cố là kết quả của sự thỏa thuận từ hai phía với mục đích bên có nghĩa vụ, hoặc người thứ ba dùng tài sản của mình để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ