Hình phạt áp dụng đối với tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi là gì?

Như đã nếu trong bài viết trước, trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ làm rõ nội dung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi.

1. Các tình tiết định khung hình phạt cụ thể

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

Đây là trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn theo luật định hoặc được các cơ quan, tổ chức tổ nhiệm, giao nhiệm vụ đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để mua bán người dưới 16 tuổi. Ví dụ, hiệu trưởng trường tiểu học lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mua bán học sinh của mình.

b) Lợi dụng hoạt động cho, nhận con nuôi để phạm tội.

Đây là trường hợp người phạm tội lợi dụng chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với việc cho nhận con nuôi để phạm tội. Người phạm tội tìm đến các cơ sở trại trẻ mồ côi xin nhận con nuôi nhưng thực chất không muốn nhận con nuôi mà mục đích của người phạm tội là đem bán đứa trẻ mà mình nhận nuôi.

c) Đối với từ 02 người trở lên.

Đối với từ 02 người trở lên là trường hợp nạn nhân bị mua bán là từ 02 người trở lên. Trường hợp này, người phạm tội đã mua bán người trên diện rộng, ảnh hưởng đến nhiều người. Nhà làm luật cũng quy định nếu số nạn nhân từ 02 đến 05 người thì người phạm tội chịu trách nhiệm theo Khoản 2 Điều 151 Bộ luật Hình sự còn nếu số nạn nhân từ 06 người trở lên thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm theo Khoản 03 Điều này.

d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng.

Người có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng bao gồm: bố mẹ bán con đẻ, con nuôi; ông bà, chú bác, cô dì bán cháu trong trường hợp bố mẹ cháu chết hoặc ly hôn, ốm đau bệnh tật nạn y không có điều kiện chăm sóc đã giao cho ông bà, chú bác cô dì chăm sóc, nuôi dưỡng cháu dưới 16 tuổi.

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trường hợp người phạm tội đã hoặc đang đưa nạn nhân ra khỏi biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, trên không và trong lòng đất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cũng được coi là đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nếu đã thực hiện thủ tục xuất cảnh đối với nạn nhân.

e) Phạm tội 02 lần trở lên.

Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi từ 02 lần trở lên nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

g) Vì động cơ đê hèn.

Vì động cơ đê hèn là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội để trả thù; phạm tội để trốn tránh trách nhiệm của bản thân; phạm tội đối với người mà mình mang ơn hoặc những hành vi phạm tội khác thể hiện sự bội bạc, phản trắc.

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên.

Đây là trường hợp người phạm tội mua bán người chưa lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân nhưng gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân ở mức đáng kể. Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích, mức độ rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

i) Có tổ chức.

Có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người cùng thực hiện tội phạm.

k) Có tính chất chuyên nghiệp.

Có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi làm nguồn sống chính.

l) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân.

Đây là trường hợp người phạm tội mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi, sau đó đã lấy đi bộ phận cơ thể của nạn nhân.

m) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

Làm nạn nhân chết là trường hợp nạn nhân trong quá trình bị mua bán đã chết ví dụ những người phạm tội đã dùng vũ lực trong quá trình mua bán người khiến nạn nhân chết,... nếu nạn nhân bị chết không phải là do quá trình mua bán mà do nguyên nhân khác như bệnh nhân bị bệnh,... thì người phạm tội không bị truy cứu về tình tiết này.

Làm nạn nhân tự sát là trường hợp là trường hợp bởi vì mua bán người, nạn nhân cảm thấy không còn mong muốn sống tiếp nên đã tự sát.

n) Tái phạm nguy hiểm.

Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Như vậy mua bán người người dưới 16 tuổi trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là trường trước đây họ đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà đã mua bán người dưới 16 tuổi khác hoặc trước đây họ đã bị kết án về tội mua bán người dưới 16 tuổi, chưa được xóa án tích mà nay lại tiếp tục mua bán người khác.

2. Hình phạt đối với người phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi

Điều 151 Bộ luật Hình sự quy định 04 khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội dưới 16 tuổi.

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 12 năm đối với người thực hiện một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

- Khung hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Lợi dụng hoạt động cho, nhận con nuôi để phạm tội;

c) Đối với từ 02 người đến 05 người;

d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Vì động cơ đê hèn;

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.

- Khung hình phạt phạt tù từ 18 năm đến 20 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

e) Đối với 06 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

3. Vụ án thực tế xét xử về tội mua bán người dưới 16 tuổi

Bản án số 82/2020/HSST ngày 22/06/2020 “V/v xét xử bị cáo Võ Thị L phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi – Điều 151 Bộ luật Hình sự” của Tòa án Nhân dân tỉnh Quảng Ninh.[1]

Võ Thị L đã sang Trung Quốc lấy chồng và sinh sống ở Trung Quốc từ năm 2010, nên biết một số người đàn ông Trung Quốc bỏ một khoản tiền ra để mua phụ nữ Việt Nam về làm vợ, L nảy sinh ý định về Việt Nam tìm phụ nữ người Việt Nam để đưa sang Trung Quốc gả bán cho đàn ông Trung Quốc lấy làm vợ, để được nhận tiền. Tháng 9/2019, L trở về quê ở tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam. Thông qua anh Hồng Văn V (sinh năm 1973, trú tại Ấp Thạnh An, xã Long Điền, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu) làm nghề chạy xe ôm, nên L biết và gặp cháu Phạm Ngọc D (sinh năm 2005, trú tại ấp 3, xã Phong Thạnh A, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu), L nói chuyện với cháu D về việc L đưa D sang Trung Quốc lấy chồng thì D và gia đình sẽ được nhận tiền 100.000.000 đồng, do gia đình khó khăn muốn kiếm tiền giúp gia đình nên cháu D đồng ý. Cùng thời điểm L có nói chuyện với bà Bùi Thị H (sinh năm 1955, trú tại: Ấp Vĩnh Điền, xã Long Điền Tây, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu) là hàng xóm cũ, xem ai có hoàn cảnh khó khăn có nhu cầu đi Trung Quốc lấy chồng thì giới thiệu cho L, bà H đồng ý. Bà H có nói chuyện này với con gái là Lý Thị Ph (sinh năm 1977).

Sau đó Ph nói lại với cháu Tống Thị Ánh Ng (sinh ngày 17/01/2004, trú tại: Hòa Thành, Tân Phước, Tiền Giang), cùng làm nhân viên ở căng tin Trường tiểu học Hậu Phòng A, phường Hậu Phòng, thị xã Giá Rai tỉnh Bạc Liêu với Ph. Khi vào làm cháu Nguyệt nói Ng đã 17 tuổi. Khi nghe Ph nói như vậy, do có hoàn cảnh khó khăn nên cháu Ng nói với Ph là muốn đi Trung Quốc lấy chồng để có tiền giúp gia đình. Ph về nói lại với bà H. Bà H đã điện thoại thông tin cho L về việc cháu Ng muốn đi Trung Quốc lấy chồng, L đồng ý. Biết cháu Ng chưa có chứng minh nhân dân, L yêu cầu Ng phải đi chụp ảnh đưa cho L đi làm chứng minh nhân dân dùng mua vé máy bay và làm sổ thông hành cho Ng đi Trung Quốc. Cháu Ng đã chụp ảnh đưa cho L. Mặc dù L biết các thủ tục và thẩm quyền làm chứng minh nhân dân là do cơ quan nhà nước thực hiện, nhưng L không đưa cháu Ng đi làm chứng minh nhân dân theo quy định. Khi nhận được ảnh của cháu Ng, L đưa ảnh của Ng và tiền cho 01 người đàn ông ở Bạc Liêu (không rõ lai lịch địa chỉ) để nhờ làm chứng minh nhân dân giả cho cháu Ng. Sau khi đưa ảnh của cháu Ng cho người đàn ông trên khoảng 3 tiếng L đã nhận 01 chứng minh nhân dân số 371725793 mang tên Phạm Thị Kim L - sinh năm 1997, có dán ảnh cháu Ng do người đàn ông đó đưa cho, L đưa cho Ng và dặn phải nhớ tên như trong chứng minh nhân dân. Sau đó L dùng chứng minh nhân dân của cháu D và chứng minh nhân dân giả mang tên Phạm Thị Kim L làm thủ tục mua vé máy bay cho D và Ng. Đến khoảng 20 giờ ngày 03/10/2019 L đón D và Ng rồi cùng đi ô tô khách di chuyển từ Bạc Liêu đến sân bay Tân Sơn Nhất -Thành phố Hồ Chí Minh. Đến 7 giờ sáng ngày 04/10/2019, L làm thủ tục tại sân bay rồi cùng hai cháu D, Ng đi máy bay từ thành phố Hồ Chí Minh đến Vân Đồn, Quảng Ninh. Sau đó đón xe ô tô khách đưa 2 cháu từ Vân Đồn đến thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. L thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ Trung Hiền ở số nhà 03, phố Thương Mại, khu 1, phường Trần Phú, thành phố Móng Cái, để cả 3 người cùng nghỉ. L liên hệ nhờ người làm giấy thông hành cho D và Ng để đưa sang Trung Quốc. Trong khi chờ để đưa 2 cháu sang Trung Quốc, cháu Ng không muốn đi Trung Quốc nữa đòi về nhưng L không đồng ý, Ng đã nhắn tin cho bạn là anh Trần Hoàng T để nhờ Công an giúp đỡ. L phát hiện cháu Ng nhắn tin nên đã yêu cầu Ng khóa sim điện thoại không được liên lạc với ai. Sau đó, nhân lúc L không để ý, cháu Ng đã bật điện thoại bắt WIFI nối mạng Internet để anh T định vị, biết vị trí Ng đang ở đâu. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Công an phường Trần Phú nhận được tin báo từ anh Trần Hoàng T, đã kiểm tra hành chính phát hiện tại phòng 103 nhà nghỉ Trung Hiền, số nhà 03, phố Thương Mại,  khu 1, phường Trần Phú, thành phố Móng Cái xác định Võ Thị L, cháu D, cháu Ng đang ở cùng để chờ L đưa D và Ng sang Trung Quốc. Võ Thị L, cháu D và cháu Ng đã được mới về trụ sở Công an Móng Cái làm việc.

Như vậy, có thể tóm tắt hành vi phạm tội của bị cáo Võ Thị L như sau:

Ngày 04/10/2019, Bị cáo Võ Thị L đã có hành vi đưa 2 cháu Phạm Ngọc D (sinh ngày 04/9/2005) và Tống Thị Ánh Ng (sinh ngày 17/01/2004) từ tỉnh Bạc Liêu -Việt Nam sang Trung Quốc giao cho người đàn ông Trung Quốc (lấy làm vợ), để L được nhận tiền từ 50.000 nhân dân tệ đến 60.000 nhân dân tệ/1 người. Trong khi L đưa cháu D và cháu Ng từ Bạc Liêu đến nhà nghỉ Trung Hiền, thuộc khu 1, phường Trần Phú, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái phát hiện bắt giữ. Để thực hiện hành vi trên, Bị cáo L còn có hành vi thuê người khác làm giả 01 chứng minh nhân dân cho cháu Tống Thị Ánh Ng và đã dùng chứng minh giả này mua vé máy bay, làm giấy thông hành để đưa cháu Ng từ Bạc Liêu sang Trung Quốc, gả bán cho người đàn ông Trung Quốc lấy Ng làm vợ. Hành vi của bị cáo Võ Thị L đã cấu thành tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”thuộc trường hợp “đối với từ 02 đến 05 người”, “đưa nạn nhận ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”theo điểm c, đ khoản 2 Điều 151 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi nhưng do hám lời, vẫn cố ý thực hiện. Hành vi mua phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm và quyền tự do của con người. Hiện nay, hành vi mua bán người đặc biệt đối tượng là trẻ em,để đưa ra nước ngoài đang có diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân.

Vì lẽ đó, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử bị cáo Võ Thị L phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi, xử phạt bị cáo L 08 (tám) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/10/2019.

 


 

[1] http://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta535354t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 22/06/2021.

 

 

Luật Hoàng Anh

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người quy định tại Điều 154 BLHS

Hình phạt đối với tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Hình phạt đối với tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS

Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS

Tội mua bán người dưới 16 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội mua bán người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 151 BLHS