Hình phạt đối với tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi là gì?

Trong bài viết trước, chúng tôi đã làm rõ thế nào là tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi, hành vi nào là hành vi chiếm đoạt người dưới 16 tuổi, chủ thể của tội phạm này là ai, thực hiện tội phạm với lỗi gì,...? Trong nội dung bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ làm rõ quy định về hình phạt đối với người phạm tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 153 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định hình phạt đối với tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi như sau:

Điều 153. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

c) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đối với 06 người trở lên;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Các tình tiết định khung hình phạt cụ thể

a) Có tổ chức.

Có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người cùng thực hiện tội phạm.

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp.

Đây là trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn nhất định theo luật định hoặc được các cơ quan, tổ chức tổ nhiệm, giao nhiệm vụ đã lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc nghề nghiệp của mình để chiếm đoạt người dưới 16 tuổi. Ví dụ, giáo viên chủ nhiệm lớp 4A trường Tiểu học B lợi dụng việc mình là chủ nhiệm của cháu B đã thực hiện hành vi dụ dỗ cháu B nhằm chiếm giữ cháu B trái phép.

c) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng.

Người có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng bao gồm: bố mẹ bán con đẻ, con nuôi; ông bà, chú bác, cô dì bán cháu trong trường hợp bố mẹ cháu chết hoặc ly hôn, ốm đau bệnh tật nan y không có điều kiện chăm sóc đã giao cho ông bà, chú bác cô dì chăm sóc, nuôi dưỡng cháu dưới 16 tuổi.

d) Đối với từ 02 người trở lên.

Đối với từ 02 người trở lên là trường hợp nạn nhân bị chiếm đoạt là từ 02 người trở lên. Trường hợp này, người phạm tội đã chiếm đoạt người dưới 16 tuổi trên diện rộng, ảnh hưởng đến nhiều người. Nhà làm luật cũng quy định nếu số nạn nhân từ 02 đến 05 người thì người phạm tội chịu trách nhiệm theo Khoản 2 Điều 153 Bộ luật Hình sự còn nếu số nạn nhân từ 06 người trở lên thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm theo Khoản 03 Điều này.

đ) Phạm tội 02 lần trở lên.

Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi từ 02 lần trở lên nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên.

Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích, mức độ rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

Đây là trường hợp việc dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chiếm giữ hoặc giao nạn nhân cho người khác chiếm giữ đã gây tổn hại đáng kể đến sức khỏe, tinh thần của nạn nhân dù người phạm tội có mong muốn gây nên tổn hại đó cho nạn nhân hay không.

f) Có tính chất chuyên nghiệp.

Có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt người dưới 16 tuổi từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ chiếm đoạt người dưới 16 tuổi làm nguồn sống chính.

g) Làm nạn nhân chết.

Làm nạn nhân chết là trường hợp nạn nhân trong quá trình bị chiếm đoạt đã chết ví dụ những người phạm tội đã dùng vũ lực trong quá trình chiếm đoạt người dưới 16 tuổi khiến nạn nhân chết,... nếu nạn nhân bị chết không phải là do quá trình chiếm đoạt mà do nguyên nhân khác như bệnh nhân bị bệnh,... thì người phạm tội không bị truy cứu về tình tiết này.

h) Tái phạm nguy hiểm.

Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Như vậy chiếm đoạt người dưới 16 tuổi trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là trường hợp trước đây họ đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà đã chiếm đoạt người dưới 16 tuổi hoặc trước đây họ đã bị kết án về tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi, chưa được xóa án tích mà nay lại tiếp tục chiếm đoạt người dưới 16 tuổi khác.

3. Hình phạt đối với người phạm tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi

Điều 153 Bộ luật Hình sự quy định 04 khung hình phạt đối với người dưới 16 tuổi phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi.

- Khung hình phạt phạt tù từ 05 năm đến 10 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp; Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng; Đối với từ 02 người đến 05 người; Phạm tội 02 lần trở lên; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

- Khung hình phạt phạt tù từ 10 năm đến 15 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Có tính chất chuyên nghiệp; Đối với 06 người trở lên; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Làm nạn nhân chết; Tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm

4. Vụ án thực tế xét xử về tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi

Bản án số 104/2019/HS-ST ngày 04/6/2019 “V/v xét xử bị cáo Nguyễn Văn B về tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi” của Tòa án nhân dân huyện B thành phố Hồ Chí Minh.[1]

Khoảng 8 giờ 15 phút ngày 15/11/2018, Ngô Văn B đi bộ ngang qua phòng trọ số 7 thấy cửa phòng khép hờ, bà H đang ngồi ru bé T ngủ trên võng trong phòng trọ, B nhớ con nên nảy sinh ý định chiếm đoạt bé T về nuôi dưỡng.

Lúc này B đẩy cửa, bước vào phòng bế bé T đi ra thì bị bà H ngăn cản, giằng co với B để giành lại bé T; B dùng tay gạt bà H và đi ra khỏi phòng trọ thì bà H truy hô “bắt cóc”. Nghe tiếng truy hô, anh Hồ Văn M (ở cùng dãy nhà trọ) đi ra thì thấy B đang ôm bé T thì bắt giữ B, lấy lại bé T giao bà H, đồng thời điện thoại báo Công an xã TK đến hiện trường tiếp nhận, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra, B khai nhận có tiền sử bệnh tâm thần nhưng không có bệnh án, cũng không điều trị tại bệnh viện nào mà tự mua thuốc uống nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trưng cầu giám định tình trạng tâm thần của bị can.

Tại kết luận giám định số 742/KLGĐ ngày 21/3/2019 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực TP. Hồ Chí Minh đối với Ngô Văn B, kết luận:

- Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 15/11/2018, bị can có rối loạn tâm thần và hành vi khác do rượu (F10.8-ICD10) Hiện tại tâm thần bình thường.

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 15/11/2018, bị can hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện tại bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Vào ngày 15/11/2018, bị cáo Ngô Văn B có hành vi dùng vũ lực đối với bà  H nhằm chiếm giữ bé T (sinh  ngày  15/11/2008), mục đích của bị cáo là để mang bé T về nuôi. Với hành vi đó bị cáo đã phạm tội “Chiếm Đoạt người dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 153 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử quyết định tuyên bố bị cáo Ngô Văn B phạm tội “Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi”, xử phạt bị cáo Ngô Văn B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/11/2018.

Luật Hoàng Anh

 

 

 


 

[1]  https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta319418t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 22/06/2021.

 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội lây truyền HIV cho người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/06/2021

Tội lây truyền HIV cho người khác quy định tại Điều 148 BLHS

Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/06/2021

Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm quy định tại Điều 147 BLHS

Phân biệt Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người

Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/06/2021

Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người quy định tại Điều 154 BLHS