Hình phạt phạt tiền đối với pháp nhân thương mại quy định như thế nào?

Theo quy định tại Điều 33 Bộ luật Hình sự, phạt tiền là một trong các hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung mà pháp nhân thương mại phạm tội có thể bị áp dụng. Vậy phạt tiền đối với pháp nhân là hình phạt như thế nào, nó có khác gì với hình phạt phạt tiền áp dụng với cá nhân phạm tội?

1. Căn cứ pháp lý

Điều 77 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định hình phạt phạt tiền đối với pháp nhân thương mại như sau:

“Điều 77. Phạt tiền

1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

2. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.

2. Hình phạt phạt tiền đối với pháp nhân thương mại

Theo quy định tại Điều 77 Bộ luật Hình sự, phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.

Nếu Tòa án áp dụng hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại là hình phạt chính thì không được áp dụng hình phạt này là hình phạt bổ sung nữa. Tuy nhiên, nếu Tòa án áp dụng hình phạt khác (không phải là tiền) là hình phạt chính thì có thể áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại.

Nếu Tòa án áp dụng hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại là phạt tiền thì phải căn cứ vào khung hình phạt tiền đối với tội phạm mà pháp nhân thương mại bị kết án để xác định mức tiền phạt cụ thể.

Điều 35 Bộ luật hình sự quy định về mức phạt tiền đối với cá nhân: “Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng.”

Có thể nhận thấy rằng, mức phạt tiền thấp nhất đối với cá nhân thấp hơn hẳn mức phạt tiền tối thiểu đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Điều này cũng dễ hiểu bởi, khả năng tài chính của pháp nhân lớn hơn hẳn khả năng tài chính đối với cá nhân.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân quy định tại Điều 161 BLHS

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác quy định tại Điều 158 BLHS

Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân quy định tại Chương XV BLHS

Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác quy định tại Điều 164 BLHS