Kết luận giám định được quy định như thế nào trong BLTTHS?

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) kết luận giám định được quy định như sau:

“Điều 100. Kết luận giám định

1. Kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân kết luận về vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định và phải chịu trách nhiệm về kết luận đó.

Nếu việc giám định do tập thể giám định tiến hành thì tất cả thành viên đều ký vào bản kết luận. Trường hợp có ý kiến khác nhau thì mỗi người ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận.

3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không đồng ý với kết luận giám định thì phải nêu rõ lý do, nếu kết luận chưa rõ hoặc chưa đầy đủ thì quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.

4. Kết luận giám định của người được trưng cầu giám định thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.”

2. Kết luận giám định là gì?

Kết luận giám định là nguồn chứng cứ theo quy định tại điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Kết luận giám định tư pháp là nhận xét, đánh giá bằng văn bản của người giám định tư pháp về đối tượng giám định theo nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định. Kết luận giám định phải ghi rõ kết qủa giám định phù hợp với nội dung đã được trưng cầu, yêu cầu giám định. Ngoài ra, kết luận giám định tư pháp phải có các nội dung sau đây:

- Họ tên người thực hiện giám định; tổ chức thực hiện giám định;

- Tên cơ quan tiến hành tố tụng; họ, tên người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định; số văn bản trưng cầu giám định hoặc họ, tên người yêu cầu giám định;

- Thông tin xác định đối tượng giám định;

- Thời gian nhận văn bản trưng cầu, yêu cầu giám định;

- Nội dung yêu cầu giám định;

- Phương pháp thực hiện giám định;

- Kết luận về đối tượng giám định;

- Thời gian, địa điểm thực hiện, hoàn thành việc giám định.

3. Sự cần thiết của kết luận giám định

Trong nhiều vụ án phức tạp, để góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, việc giám định của giám định viên hoặc người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực chuyên môn cần giám định, được các CQTHTT trưng cầu đối với các vấn đề phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án, là điều rất cần thiết. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, không ít trường hợp, nếu không có kết luận giám định, thì không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự như giám định tỷ lệ thương tật của người bị hại, giám định pháp y kết luận nguyên nhân chết, giám định tâm thần đối với đối tượng nghi mắc bệnh tâm thần

Người giám định sử dụng những kiến thức khoa học của mình để tìm hiểu và kết luận những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định. Trong trường hợp người giám định từ chối giám định mà không có lý do chính đáng, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội từ chối khai báo, từ chối két luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu (Điều 383 BLHS 2015)

Để tăng cường trách nhiệm của người giám định, cơ quan, tổ chức, cá nhân két luận về vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định và phải chịu trách nhiệm về kết luận đó. Nếu việc giám định do tập thể giám định tiến hành thì tất cả các thành viên đều ký vào biên bản kết luận. Trường hợp có ý kiến khác nhau thì môi người ghi ý kiến kết luận của mình vào biên bản kết luận.

Trường hợp không đồng ý với kết luận giám định, thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nêu rõ lý do, nếu nhận thấy kết luận chưa rõ hoặc chưa đầy đủ thì có thể quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại theo thủ tục do Bộ luật này quy định.

4. Những trường hợp thay đổi, từ chối người kết luận giám định

Kết luận giám định của người được trưng cầu giám định thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án. Người giám định từ chối thực hiện giám định trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành giám định, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết luận, nội dung yêu cầu của giám định vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình. Người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp: Đồng thời là bị hại, đương sự, là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo; Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch, người dịch thuật, người định giá tài sản trong vụ án đó; Đã tiên hành tố tụng trong vụ án đó. Luật quy định như vậy để đảm bảo vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

5. Thời hạn, trình tự gửi kết luận giám định

Tại khoản 2, khoản 3, điều 213, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

“(2) Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra kết luận giám định, tổ chức, cá nhân đã tiến hành giám định phải gửi kết luận giám định cho cơ quan đã trưng cầu, người yêu cầu giám định. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kết luận giám định, cơ quan đã trưng cầu, người yêu cầu giám định phải gửi kết luận giám định cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. (3) Để làm sáng tỏ nội dung kết luận giám định, cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân đã tiến hành giám định giải thích kết luận giám định; hỏi thêm người giám định về những tình tiết cần thiết”.

Kết luận giám định có ý nghĩa đối với việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời và đúng đắn vụ án hình sự. Vì vậy, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra kết luận giám định, tổ chức, cá nhân đã tiến hành giám định phải gửi kết luận giám định cho cơ quan đã trưng cầu, người yêu cầu giám định.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kết luận giám định, cơ quan đã trưng cầu, người yêu cầu giám định phải gửi kết luận giám định cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.

Đồng thời để làm sáng tỏ nội dung kết luận giám định, cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân đã tiến hành giám định giải thích kết luận giám định; hỏi thêm người giám định về những tình tiết cần thiết.”

6. Những điểm mới của Điều luật so với quy định trong BLTTHS 2003.

Điều luật đã bổ sung quy định “Kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định.” Thay cụm từ “người giám định” thành cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Thay cụm từ “một nhóm người” thành tập thể.Bổ sung quy định “Kết luận giám định của người được trưng cầu giám định thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án”.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/07/2021

Bài viết trình bày về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán theo quy định của BLTTHS 2015.

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/07/2021

Bài viết trình bày về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm theo quy định của BLTTHS 2015.

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thư ký Tòa án là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/07/2021

Bài viết trình bày về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thư ký Tòa án theo quy định của BLTTHS 2015.

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm tra viên là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/07/2021

Bài viết trình bày về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm tra viên theo quy định của BLTTHS 2015.