Khung hình phạt đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như thế nào?

Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và các khung hình phạt tại Điều 255, cụ thể như sau:

“Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

d) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

đ) Đối với người đang cai nghiện;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

d) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

b) Làm chết 02 người trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Bất kì cá nhân nào có hành vi phạm tội đều bị xử lí hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 như sau:

Điều 255 BLHS năm 2015 quy định bốn khung hình phạt chính (khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4) và 1 khung hình phạt bổ sung (khoản 5) đối với tôi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

- Khoản 1: Quy định khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm đối với các trường hợp phạm tội cấu thành cơ bản, không có tình tiết tăng nặng.

- Khoản 2: Quy định hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với các trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng sau:

+ Phạm tội 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy tố, xét xử trong các lần phạm tội.

+ Đối với 02 người trở lên được hiểu là trong một lần thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội khi có từ 02 người trở lên.

+ Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi: cần căn cứ vào giấy khai sinh để xác định tuổi của người chưa thành niên

+ Đối với phụ nữ mà biết là có thai: căn cứ vào kết luận của bác sĩ.

Lưu ý: Khi thực hiện hành vi phạm tội, ý thức của người phạm tội phải biết nạn nhân có thai

+ Đối với người đang cai nghiện: là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với người đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận họ nghiện ma túy và đang được cai nghiện tại trung tâm cai nghiện, tại gia đình hoặc cồng dân cư. [1]

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%: căn cứ vào Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

+ Gây bệnh nguy hiểm cho người khác: là trường hợp nạn nhân đã mắc bệnh do sử dụng trái phép chất ma túy và bệnh đó đe dọa tính mạng của họ như bị nhiễm HIV/AIDS, viêm gan B,…

*Lưu ý: Trường hợp người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy biết bản thân họ hoặc người khác đã nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người sử dụng chất ma túy thì cùng với việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 255 của BLHS năm 2015, người này còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lây truyền HIV cho người khác theo quy định tại Điều 148 của BLHS hoặc tội cố ý truyền HIV cho người khác theo quy định tại Điều 149 của BLHS.

+ Tái phạm nguy hiểm là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hoặc trường hợp người phạm tội đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện phạm tội này. (Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 về tái phạm, tái phạm nguy hiểm)

- Khoản 3: Quy định khung hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm đối với các trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết tăng nặng sau:

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người: căn cứ vào Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần và phải làm rõ nguyên nhân gây chết người từ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%: căn cứ vào Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với nạn nhân từ 02 người trở lên.

+ Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên: là trường hợp nạn nhân từ 02 người trở lên đã mắc bệnh do sử dụng trái phép chất ma túy và bệnh đó đe dọa tính mạng của họ như bị nhiễm HIV/AIDS, viêm gan B,…

+ Đối với người dưới 13 tuổi: căn cứ vào giấy khai sinh để xác định độ tuổi.

- Khoản 4: Quy định khung hình phạt tù từ 20 năm hoặc tù chung thân đối với các trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết tang nặng sau:

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên: đã phân tích ở trên

+ Làm chết 02 người trở lên

- Khoản 5 quy định hình phạt bổ sung có thể bị áp dụng đối với người phạm tội là: phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

* Lưu ý:

- Người phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý có thể là người nghiện hoặc không phải là người nghiện ma tuý. Vì vậy, phải xác định rõ và đúng bản chất của hành vi tổ chức, vì nếu chỉ là những người nghiện ma tuý tụ tập với nhau sử dụng trái phép chất ma tuý thì không phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Nếu sau khi bán ma tuý cho người nghiện, người bán còn cho người nghiện sử dụng địa điểm của mình, cung cấp các dụng cụ tiêm chích cho người nghiện thì dù là lần đầu cũng bị truy tố về tội mua bán trái phép chất ma tuý (Điều 251) và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 255) của BLHS năm 2015.

[1] Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 về hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999, Phần II, Mục 6.3.a

Luật Hoàng Anh

 

 

 


 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/06/2021

Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Điều 255 với 4 yếu tố cấu thành tội phạm cơ bản