Người sau cai nghiện được quy định giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành thời gian quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú như thế nào?

Các đối tượng sau cai nghiện ma túy thuộc trường hợp quản lý tại nơi cư trú nếu đáp ứng các điều kiện mà pháp luật quy định thì được giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành thời gian quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú.

Điều 14 Nghị định 94/2009/NĐ-CP ngày 26/10/2009 của Chính phủ quy định các trường hợp được giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành thời gian quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú và trình tự, thủ tục xem xét như sau:

1. Các trường hợp được giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành thời gian quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú

- Người sau cai nghiện đã chấp hành được hai phần ba thời gian theo quyết định quản lý sau cai nghiện, nếu lập công hoặc có tiến bộ rõ rệt thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giảm một phần hoặc miễn chấp hành thời gian còn lại.

+ Người lập công là trường hợp dũng cảm cứu người, cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể hoặc của người khác và được Ủy ban nhân dân cấp xã khen thưởng; có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị trong lao động, sản xuất, được cơ quan chức năng từ cấp tỉnh trở lên công nhận; có thành tích đặc biệt xuất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và được tặng giấy khen của Công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên [1].

+ Người có tiến bộ rõ rệt là trường hợp tích cực lao động, học tập, tham gia các phong trào chung của địa phương, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận [2].

- Trường hợp người đang chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện bị ốm nặng thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định để điều trị; thời gian điều trị không được tính vào thời hạn chấp hành quyết định.

Điều này nhằm đảm bảo thời gian điều trị và bảo vệ sức khỏe, tính mạng cho người bệnh.

- Đối với phụ nữ có thai thì được tạm đình chỉ thi hành quyết định cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Nếu trong thời gian tạm đình chỉ mà người đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công (như đã phân tích ở trên) được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú xác nhận thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

Tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ mang thai và trẻ em.

- Đối với người mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện cấp huyện trở lên thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

Người mắc bệnh hiểm nghèo là người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, nhồi máu cơ tim, bệnh xơ cứng rải rác, viêm não nặng, loạn dưỡng cơ,… [3] và phải có giấy khám sức khỏe hay hồ sơ bệnh án của bệnh viện nơi người đó điều trị hoặc thăm khám.

2. Trình tự, thủ tục xem xét việc giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú

Nghị định 94/2009/NĐ-CP ngày 26/10/2009 của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xem xét giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú như sau:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã lập danh sách các trường hợp được giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn việc chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện như đã phân tích ở trên và làm văn bản gửi Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện.

- Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện phải thẩm tra, làm văn bản trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.

- Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày nhận văn bản của Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải xem xét, quyết định việc giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn việc chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện đối với người sau cai nghiện đáp ứng đủ điều kiện.

Trên đây là các trường hợp người sau cai nghiện được giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện và trình tự, thủ tục thực hiện. Pháp luật quy định như vậy nhằm mục đích giúp người sau cai nghiện có những biểu hiện tích cực sớm tái hòa nhập cộng đồng và tham gia lao động, sản xuất. Đối với các trường hợp liên quan đến sức khỏe của người sau cai nghiện nhằm đảm bảo chữa trị kịp thời và phục hồi sức khỏe cho họ. Tuy nhiên các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền cần thực hiện xem xét việc giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quyết định theo trình tự và thủ tục mà pháp luật quy định để tránh xảy ra sai sót.

Luật Hoàng Anh

Tài liệu thảm khảo:

[1] , [2] Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (sửa đổi, bổ sung một tại Nghị định số 136/2016/NĐ-CP)

[3] Danh mục bệnh hiểm nghèo ban hành kèm theo Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ hướng dẫn Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2021/NĐ-CP)

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Người sau cai nghiện được quản lý tại nơi cư trú như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 27/06/2021

Người nghiện ma túy sau khi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện phải được quản lý chặt chẽ tại nơi cư trú để phòng ngừa tái nghiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật

Trình tự, thủ tục quản lý người sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 27/06/2021

Người cai nghiện sau ma túy là đối tượng có khả năng tái nghiện cao cần quản lý những đối tượng này một cách chặt chẽ theo đúng trình tự và thủ tục mà pháp luật quy định.