Người tham gia tố tụng bao gồm những ai? Được Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định như thế nào?

Hoàn thiện chế định về người bào chữa, người tham gia tố tụng, đảm bảo quyền con người, quyền bình đẳng của các bên trong tranh tụng là yêu cầu của cải cách tư pháp hiện nay. Nghị quyết 49 ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 chỉ rõ: “xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh.”

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 55 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) quy định về người tham gia tố tụng như sau:

“Điều 55. Người tham gia tố tụng

1. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

3. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

4. Người bị bắt.

5. Người bị tạm giữ.

6. Bị can.

7. Bị cáo.

8. Bị hại.

9. Nguyên đơn dân sự.

10. Bị đơn dân sự.

11. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

12. Người làm chứng.

13. Người chứng kiến.

14. Người giám định.

15. Người định giá tài sản.

16. Người phiên dịch, người dịch thuật.

17. Người bào chữa.

18. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.

19. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố.

20. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác theo quy định của Bộ luật này.”

2. Nội dung điều luật

BLTTHS 2015 cũng quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của những đối tượng này khi tham gia tố tụng.

Theo điều luật này, người tham gia tố tụng bao gồm cả cá nhân và cơ quan, tổ chức có năng lực pháp luật và năng lực hành vi để tham gia vào các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, có quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Vậy thế nào là “năng lực pháp luật” và “năng lực hành vi”?

-  Năng lực pháp luật là khả năng của cá nhân hay tổ chức có quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật. Năng lực pháp luật của cá nhân xuất hiện từ khi con người sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. Năng lực pháp luật của tổ chức xuất hiện từ khi có quyết định thành lập hoặc có sự thừa nhận tổ chức đó của một chủ thể pháp luật có thẩm quyền và chấm dứt khi tổ chức đó bị giải thể, sáp nhập thành một bộ phận của tổ chức khác hoặc bị tuyên bố phá sản.

- Năng lực hành vi là khả năng của các cá nhân hay tổ chức do pháp luật quy định, bằng các hành vi của chính mình thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý và tự chịu trách nhiệm về những hành vi ấy. Năng lực hành vi của tổ chức xuất hiện cùng với năng lực pháp luật vào thời điểm có quyết định thành lập hoặc thừa nhận tổ chức đó của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Năng lực hành vi của các cá nhân xuất hiện muộn hơn so với năng lực pháp luật. Nếu năng lực pháp luật nói chung xuất hiện từ khi con người mới sinh ra thì năng lực hành vi xuất hiện khi con người đạt tới độ tuổi nhất định.

BLTTHS năm 2015 chia người tham gia tố tụng làm ba nhóm:

+ Nhóm 1: Người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích trong vụ án, tức là họ sẽ là những chủ thể phải chịu những quyết định trực tiếp từ Tòa án cả về quyền, nghĩa vụ cũng như lợi ích : Bao gồm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt; người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; bị hại; nguyên đơn dân sự;bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác theo quy định của Bộ luật này.

+ Nhóm 2: Người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích cho người khác bởi nhiệm vụ và mục đích của họ là giúp người bị buộc tội làm sáng tỏ những tình tiết vụ án nhằm chứng minh sự vô tội giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội, giúp cho họ bảo đảm  các quyền và lợi ích pháp lý của họ: Bao gồm người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự; và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố;

+ Nhóm 3: Người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý: Bao gồm người làm chứng; người chứng kiến, người giám định; người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật. Riêng với người tố giác, người báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì có thể là người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích trong vụ án hoặc là người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý.

 Điểm mới, BLTTHS 2015 đã bổ sung một chủ thể quan hệ pháp luật mới trong những người tham gia tố tụng là pháp nhân, việc bổ sung này xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn trong đó cơ quan, tổ chức là pháp nhân thường có những hành vi phạm tội về các vấn đề như môi trường, thuế, chứng khoán, bảo hiểm. Song BLTTHS 2003 không có chế tài xử lý đối với pháp nhân mà chỉ áp dụng hình thức xử lý hành chính nên dẫn tới việc bỏ lọt tội phạm. Việc quy định thêm chủ thể pháp nhân đã khắc phục được những hạn chế này. Quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng trong các giai đoạn bị tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự đối với pháp nhân thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định của Bộ luật này và được quy định cụ thể trong Chương XXIX – Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân từ Điều 431 đến 446.

Cần chú ý là chỉ có “chủ thể quan hệ pháp luật” của pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự mới là người tham gia tố tụng. Đối với cá nhân thì năng lực pháp luật đương nhiên có được từ lúc sinh ra đến lúc chết đi (hoặc bị tuyên đã chết), còn năng lực hành vi hình thành khi đạt được độ tuổi nhất định (pháp luật Việt Nam quy định là từ đủ 18 tuổi). Đối với pháp nhân thì năng lực pháp luật và năng lực hành vi (thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật) cùng xuất hiện kể từ khi được cấp phép thành lập cho đến khi phá sản, giải thể (hoặc bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy phép). Như vậy, chủ thể quan hệ pháp luật là pháp nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi, tức là phải có khả năng tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật ví dụ như chi nhanh, văn phòng đại diện, phòng giao dịch… chỉ là chủ thể pháp luật, hoạt động theo ủy quyền của pháp nhân, họ có thể ký một số hợp đồng giao dịch nhưng không có tư cách tham gia tố tụng. Do đó, pháp nhân phải cử và bảo đảm cho người đại diện theo pháp luật của mình tham gia đầy đủ các hoạt động bị tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền. Trường hợp người đại dienj theo pháp luật của pháp nhân bị tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc không thể tham gia tố tụng được thì pháp nhân phải cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tố tụng. Trường hợp pháp nhân thay đổi người đại diện thì pháp nhân phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tại thời điểm bị tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà pháp nhân không có người đại diện theo pháp luật hoặc có nhiều người cùng là đại diện theo pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định một người đại diện cho pháp nhân tham gia tố tụng.

Một trong, những vấn đề được xem khi quy định pháp nhân là chủ thể của pháp luật tố tụng hình sự là việc chứng minh những nội dung quan trọng để định tội danh đối với pháp nhân, đó là các yếu tố hành vi phạm tội, yếu tố lỗi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả, cũng giống như đối với chủ thể phạm tội là cá nhân. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại là một vấn đề mới được đặt ra, pháp nhân phạm tội không loại trừ trách nhiệm hình sự cá nhân. Do vậy trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cần làm rõ các tình tiết, hành vi phạm tội của cá nhân hoặc pháp nhân, trường hợp pháp nhân ra quyết định hoặc chỉ đạo cá nhân thực hiện hành vi phạm tội thì cần xử lý hình sự cả cá nhân và pháp nhân về tội mà họ đã thực hiện. Như vậy việc xử lý tội phạm mới triệt để, toàn diện, tránh bỏ lọt tội phạm là cá nhân, pháp nhân phạm tội.

BLTTHS 2015 đã có những bước chuyển cơ bản về chế định bào chữa cho người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự theo tinh thần của Hiến pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, về diện chủ thể người bào chữa, ngoài Luật sư và Bào chữa viên nhân dân, BLTTHS 2015 còn quy định hai chủ thể là “ trợ giúp viên pháp lý” trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý và “người đại diện của người bị buộc tội”

Ngoài người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì “người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố” (thường được gọi là nghi phạm trong giai đoạn “tiền tố tụng”, “người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” cũng có thể tự mình bào chữa, hoặc nhờ người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Quy định này không chỉ mở rộng thời điểm người bào chữa  có thể tham gia bảo vệ quyền và lọi ích hợp pháp cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà còn khắc phục tình trạng nhiều cá nhân bị Cơ quan Điều tra triệu tập ghi lời khai, thực hiện một số biện pháp tư pháp như tạm giữ người qua đêm, thu giữ hộ chiếu và ngăn chặn xuất cảnh, cấm đi khởi nơi cứ trú, thực chất là các biện pháp hành chính tố tụng nhằm hạn chế quyền tự do thân thể, đi lại nhưng không nhận được bất cứ sự hỗ trợ từ mặt pháp lý.

Khoản 2 Điều 383 BLTTHS 2015: “Trường hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn được tiến hành.” Như vậy, “người bị kết án” cũng là đối tượng được hưởng quyền bào chữa, bảo vệ quyền lợi trong quá trình xem xét lại bản án có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm.

Bên cạnh đó, BLTTHS 2015 lần đầu quy định trình tự thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân, cho nên pháp nhân cũng là chủ thể được hưởng quyền bào chữa, bảo vệ quyền lợi của mình. Theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 435 BLTTHS 2015, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân co quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa cho pháp nhân.

Ngoài ra, đối với những trường hợp bị buộc tội mà khung hình phạt cao nhất đến 20 năm tù, tù chung thân, tử hình theo điểm a khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015 thì CQTHTT bắt buộc phải chỉ định người bào chữa.

 Như vậy, Điều luật này liệu kê cụ thể các đối tượng là người tham gia tố tụng hình sự. Đây là điều luật mới, so với quy định trong BLTTHS 2003 thì BLTTHS 2015 đã bổ sung thêm 9 loại người tham gia tố tụng bao gồm: Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Người bị bắt; Người chứng kiến; Người định giá tài sản; Người dịch thuật; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác theo quy định của Bộ luật này. Ngoài ra, thay đổi tên gọi của mỗi loại người tham gia tố tụng: “Người bị hại” thành “Bị hại”; “Người phiên dịch” thành: “Người phiên dịch, người dịch thuật”; Người bảo vệ quyền lợi của Đương sự” thành “Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự” và “Người làm chứng” thành: “Người làm chứng, người chứng kiến.” Cho ta thấy, BLTTHS 2015 còn có sự tiếp thu BLTTHS 2003 và điều chỉnh, sửa đổi.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra được quy định như thế nào trong BLTTHS 2015?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/07/2021

Bài viết trình bày về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra theo quy định của BLTTHS 2015

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên được quy định như thế nào trong BLTTHS 2015?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/07/2021

Bài viết trình bày về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên theo quy định của BLTTHS 2015.

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm Cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra được quy định như thế nào trong BLTTHS năm 2015?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/07/2021

Bài viết trình bày về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm Cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra theo quy định của BLTTHS 2015

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/07/2021

Bài viết trình bày về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư theo quy định của BLTTHS 2015.