Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là gì?

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là những tư tưởng mang tính xuất phát điểm, có tính chủ đạo định hướng cho toàn bộ hoạt động xây dựng, thực thi, kiểm soát pháp luật tố tụng hình sự hướng tới mục đích giải quyết vụ án khách quan, công bằng, dân chủ bảo đảm công lý trong quá trình hoạt động tố tụng, giải quyết vụ án hình sự.

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 21 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) về nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng được quy định như sau:

“Điều 21. Bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người chứng kiến không được tham gia tố tụng nếu có lý do cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ.”

Như vậy, một trong những đòi hỏi quan trọng nhằm bảo đảm cho hoạt động tố tụng hình sự được khách quan, chính xác, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm, BLTTHS năm 2015 đã quy định bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là một trong những nguyên tăc cơ bản của tố tụng hình sự.

2.Đối với người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là chủ thể tiến hành hoạt động chứng minh vụ án trong tố tụng hình sự. Tại khoản 2 Điều 34 BLTTHS năm 2015 có quy định rõ về các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng như sau:

“Người tiến hành tố tụng gồm:

a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra;

b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;

c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên.”

Như vậy, các chủ thể trên sẽ có thẩm quyền tham gia vào quá trình hoạt động tố tụng của một vụ án hình sự, mỗi cá nhân, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ có những quyền hạn và nhiệm vụ riêng trong giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên, khi tiến hành hoạt động tố tụng các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để đảm bảo cho việc phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích nhà nước và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vì vậy, nếu có những chứng cứ, chứng minh cho rằng trong hoạt động tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng này không có sự vô tư khách quan trong việc tiến hành giải quyết vụ án thì chủ thể đó sẽ không được tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong những trường hợp cụ thể này, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải từ chốt hoặc bị thay đổi, để đảm bảo giải quyết vụ án được công bằng và khách quan nhất.

Theo quy định tại Điều 49 BLTTHS năm 2015 có quy định về các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng như sau:

“Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

1. Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;

2. Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;

3. Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.”

Và quy định chi tiết về việc thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự tại các Điều 51, 52, 53, 54 của BLTTHS năm 2015.”

3.Đối với người tham gia tố tụng

Bộ luật TTHS năm 2015 chia người tham gia tố tụng thành 3 nhóm đó là: nhóm người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích trong vụ án; người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích cho người khác và cuối cùng người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý.

Nguyên tắc, bảo đảm sự vô tư được áp dụng đối với những chủ thể tham gia tố tụng hình sự, cụ thể đó là: người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người chứng kiến, và họ thuộc nhóm thứ ba sẽ tham gia quá trình giải quyết vụ án hình sự với tư cách là người tham gia tố tụng  theo nghĩa vụ pháp lý, họ sẽ không có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án, chức nắng của các chủ thể khi tham gia vào hoạt động giải quyết vụ án đó là góp phần xác định sự thật vụ án chính vì vậy pháp luật cũng đòi hỏi sự vô tư của họ khi tham gia vào một vụ án trong tố tụng hình sự.

Cũng như các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, các chủ thể tham gia tố tụng, họ cũng phải vô tư, khách quan khi làm nhiệm vụ của mình trong mọi trường hợp. Họ phải tôn trọng sự thật, tôn trọng pháp luật, tiến hành công việc của mình với yêu cầu khách quan, vô tư, không được đẻ những quan hệ tình cảm cá nhân nào khác chi phối vào công việc, không được có thái độ thiên vị hay định kiến đối với bất kỳ người tham gia tioos tụng nào. Trong trường hợp nếu có lý do chính đáng cho rằng họ không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ thì họ sẽ không được tham gia tố tụng, họ sẽ phải từ chối hoặc bị đề nghị thay đổi theo quy định tại Điều 67, 68, 69, 70 của BLTTHS năm 2015.

Như vậy, Điều luật này đã sửa đổi, bổ sung Điều 14 BLTTHS năm 2003 quy định thành một nguyên tắc độc lập nhằm bảo đảm cho hoạt động tố tụng hình sự được khách quan, việc xử lý tội phạm được chính xác. Từ đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc này là điều kiện cần thiết để thực hiện một số các nguyên tắc cơ bản khác của BLTTHS như các nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; xác định sự thật vụ án, bảo đảm nguyên tắc quyền bào chữa cho bị can, bị cáo. Chính vì vậy, nguyên tắc này đòi hỏi pháp lý chi phối mọi hoạt động của người tiến hành tố tụng, trong giải quyết vụ án hình sự.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tình thế cấp thiết là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Tình thế cấp thiết được quy định tại Điều 23 BLHS

Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội gồm 03 hình phạt chính và 03 hình phạt bổ sung

Các hình phạt đối với người phạm tội là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Các hình phạt đối với người phạm tội gồm 07 hình phạt chính và 07 hình phạt bổ sung

Hình phạt là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Khái niệm hình phạt được quy định tại Điều 30 BLHS