Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án hình sự được hiểu như thế nào?

 

1. Cơ sở pháp lý

“Điều 15. Xác định sự thật của vụ án

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.2. Nội dung nguyên tắc”

2. Nội dung nguyên tắc

Điều luật này được xây dựng trên cơ sở, sửa đổi, bổ sung Điều 10 BLTTHS năm 2003, quy định về nguyên tắc xác định sự thật của vụ án.

Xác định sự thật của vụ án là một nguyên tắc quan trọng của tố tụng hình sự nhằm bảo đảm việc xử lý vụ án được công minh, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Đây là nguyên tắc cơ bản của BLTTHS năm 2015, sự thật của vụ án cần phải được xác định là: có dấu hiệu tội phạm xảy ra hay không, mục đích, động cơ, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Qúa trình tố tụng hình sự là quá trình nhận thức để tìm ra chân lý, sự thật vụ án, chân lý vụ án là toàn bộ những sự kiện xảy ra trên thực tế mà cơ quan tiến hành tố tụng xác định bằng trình tự, thủ tục luật định.

Trong một vụ án hình sự, để xác định một người là phạm tội, trên cơ sở đó truy cứu trách nhiệm hình sự, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có những quyền và nghĩa vụ:

a. Cơ quan điều tra: Là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra. Khi tiến hành điều tra, CQĐT phải tuân thủ nguyên tắc tôn trong sự thật, bảo đảm nhanh chóng, chính xác, khách quan, toàn diện; phát hiện làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định là vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người có hành vi phạm tội; không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.
Tai Điều 4 Thông tư 28/2014/TT-BCA có quy định về nguyên tắc hoạt động điều tra trong Công an nhân dân:

“1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; tôn trọng lợi ích của Nhà nước, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Tôn trọng sự thật, bảo đảm nhanh chóng, chính xác, khách quan, toàn diện; phát hiện làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người có hành vi phạm tội; không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

3. Chỉ Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Thông tư này được tiến hành điều tra các vụ án hình sự.

4. Cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Cơ quan điều tra cấp trên.

5. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước pháp luật về mọi hành vi và quyết định của mình.

6. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được xác định theo thẩm quyền điều tra.”

b. Viện kiểm sát

Viện kiểm sát là cơ quan thực hiện quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; không để người nào khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật. Và chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát được quy định rõ ràng cụ thể tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014:

“1. Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

2. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm:

a) Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội;

b) Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.

3. Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định;

b) Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

c) Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

d) Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện;

đ) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;

e) Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội;

g) Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật;

h) Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố;

i) Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa;

k) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;

l) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.”

Ngoài chức năng thực hiện quyền công tố, cơ quan Viện kiểm sát còn có chức năng kiểm soát hoạt động tư pháp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân 2014 thì kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tin tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự để đảm bảo tính khách quan, sự thật vụ án.

c. Tòa án

Tòa án là cơ quan xét xử, thực hành quyền tư pháp, Khi xét xử các vụ án hình sự, Tòa án phải xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án tuyên có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp.

Khi thực hiện hoạt động xét xử, theo quy định tại Điều 2 Luật tổ chức TAND năm 2014,Tòa án có quyền: Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do CQĐT, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiếm sát viên thu thập, do Luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp; khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu VKS điều tra bổ sung; yêu cầu VKS bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm ra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của BLTTHS; yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trình bày về các vấn đề liên quan đếm vụ án tại phiên tòa; khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

Trên tinh thần đó, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh người đó là người thực hiện hành vi bị BLHS coi là tội phạm. Nếu không chứng minh được một người đã thực hiện tội phạm thì không thể kết tội người đó. Nếu một người đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm nhưng không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm đó thì các cơ quan có thẩm quyến tiến hành tố tụng cũng không thể truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó.

 Đặc biệt, trách nhiệm chứng minh phạm tội thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, bởi lẽ, trách nhiệm phát hiện và xử lý tội phạm phải thuộc về nhà nước với tư cách người nắm giữ quyền lực công có chức năng duy trì và bảo vệ trật tưn xã hội. Chỉ có nhà nước với công cụ quyền lực có các điều kiện thuận lợi như: con người, phương tiện kỹ thuận, cơ sở pháp lý, mới có thể xác định được sự thật một cách thuận lợi nhất. Người bị buộc tội có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình; người bị buộc tội có quyền đưa ra các chứng cứ để chứng minh mình không phạm tội. Trách nhiệm chứng minh mình vô tội không thuộc nghĩa vụ của họ. Nếu họ thành khẩn khai báo thì được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chứ không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoan cố, chối tội.

Như vậy, xác định sự thật của vụ án là một trong những yếu tố để thực thi công bằng xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Các quyền con người cũng sẽ được đảm bảo khi việc xác định có tội, xác định vô tội, làm rõ tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo được thực hiện một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.

Luật Hoàng Anh

 

 

 

 

 

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Miễn hình phạt là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 01/07/2021

Miễn hình phạt được quy định 59 BLHS

Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 01/07/2021

Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 57 BLHS

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 01/07/2021

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm quy định tại Điều 58 BLHS

Thời hiệu thi hành bản án hình sự là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 01/07/2021

Thời hiệu thi hành bản án hình sự quy định tại Điều 60 BLHS