Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm?

Hội thẩm là một chức danh tố tụng, là người thực hiện hoạt động xét xử ở Tòa án. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm trong xét xử vụ án hình sự.

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 46 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm được quy định như sau:

“Điều 46. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm

1. Hội thẩm được phân công xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa;

b) Tiến hành xét xử vụ án;

c) Tiến hành hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.

2. Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình.”

2. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm

Điều luật được xây dựng trên cơ sở sửa đổi Điều 40 BLTTHS 2003, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm.

Sự hiện diện của Hội thẩm nhân dân trong xét xử và kết quả hoạt động của hội thẩm lại càng thêm khẳng định rằng, nhân dân luôn phải có có tiếng nói của mình trong hoạt động tư pháp, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân.

Hội thẩm là người được bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nên Hội thẩm cũng là một chức danh tố tụng. Chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương. Chế độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với TAQS quân khu và tương đương, TAQS khu vực. Ở TANDTC, TANDCC, TAQS trung ương không có Hội thẩm tham gia xét xử. Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm tham gia theo quy định của luật tố tụng, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc việc xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập, tự chủ trong quá trình xét xử vụ án để từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá, kết luận mà không phụ thuộc vào các thành viên khác trong hoạt động xét xử, như vậy sẽ thể hiện tính khách quan, công bằng trong hoạt động xét xử của vụ án hình sự,tránh bỏ lọt tội phạm và oan sai người vô tội; pháp luật cũng nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân, can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào ( quy định tại Điều 7,8 và 9 Luật tổ chức TAND 2014).

Hội thẩm được phân công xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có những nhiệm vụ và quyền hạn như:

a. Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa: cũng giống như: Thẩm phán, Hội thẩm cũng có nhiệm vụ và quyền hạn đó chính là nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa. Vậy hồ sơ vụ án hình sự là gì? Đó là tập hợp các văn bản (tài liệu) do các cơ quan tiến hành tố tụng lập theo quy định của pháp luật trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, được sắp xếp theo một trình tự nhất định nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng đắn. Mỗi tài liệu chứa đựng một hoặc nhiều thông tin liên quan chặt chẽ với nhau phản ánh nội dung vụ án. Và vì Hội thẩm và Thẩm phán làm việc độc lập và tuân theo pháp luật chính vì vậy cả hai chủ thể đều tham gia xét xử vụ án, nghiên cứu vụ án từ thời điểm có bản truy tố của Viện kiểm sát và các chủ thể cần có sự tìm hiểu về vụ án thông quan các tài liệu chứng, chứng minh mà Cơ quan điêu tra và Viện kiểm sát thu thập được, khi nghiên cứu trước về vụ án như vậy họ sẽ có những định hướng, nền tảng ban đầu để có thể giải quyết và xét xử vụ án một cách công bằng và nhanh chóng nhất, để tránh gây mất thời gian, chống bỏ lọt tội phạm và án oan cho người vô tội;

Và trước khi nghiên cứu vụ án, trước hết Hội thẩm nhân dân cần làm rõ một số vấn đề như:

+ Kiểm tra hồ sơ có đúng là hồ sơ vụ án (hoặc các hồ sơ vụ án) của phiên tòa mà mình được phân công tham gia xét xử không; đảm bảo đúng thủ tục và tính an toàn trong công tác giao nhận hồ sơ vụ án khi nghiên cứu hồ sơ;

+ Xem qua hồ sơ vụ án để xác định Hội thẩm nhân dân có thuộc trường hợp bị thay đổi người tiến hành tố tụng không;

+ Xác định mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu hồ sơ để nắm vững nội dung vụ án, xác định các loại tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nắm bắt được diễn biến của vụ việc, nội dung các tình tiết và hệ thống các chứng cứ của vụ án, để từ đó có hướng giải quyết vụ án đúng pháp luật;

b. Tiến hành xét xử vụ án: Hội thẩm cùng với Thẩm phán cùng tham gia tiến hành xét xử vụ án hình sự, Hội thẩm chính là sự hiện diện của nhân dân trong hoạt động tư pháp, chính vì vậy họ có mặt và tiến hành xét xử vụ án theo nguyên tắc: công bằng – khách quan- minh bạch- công khai.

c. Tiến hành hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐXX.

Và trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình nếu họ có những hành sai trái, đi ngược lại với pháp luật, làm sai quy trình tố tụng do BLTTHS quy định thì tùy theo mức độ nặng nhẹ họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những hành vi mà họ đã làm.

Về số lượng Hội thẩm tham gia Hội đồng xét xử, pháp luật tố tụng quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm: 01 Thẩm phán và 02 Hội thẩm; trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng thì Hội đồng xét xử có thể gồm 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm.

Điều 40 BLTTHS 2003 quy định Hội thẩm được “ tham gia xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm”; bên cạnh đó, Điều 244 BLTTHS 2003 cũng quy định Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm.” Tuy nhiên trên thực tế, do TANDCC, TAQS trung ương không có Hội thẩm, các Tòa án tỉnh, thành phố cũng đều cử ba Thẩm phán xét xử phúc thẩm nên hầu như không có việc Hội thẩm tham gia xét xử ở Tòa án cấp phúc thẩm. Thực trang đó cho thấy quy định Hội thẩm được tham gia xét xử tại các vụ án hình sự theo thủ tục phúc thẩm là không thực tế, không khả thi. BLTTHS 2015 đã khắc phục thiếu sót này, quy định cụ thể: “Hội thẩm được phân công xét xử sơ thẩm vụ án hình sự”

Như vậy, hội thẩm giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Toà án, đã thể hiện được vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và của công dân, luôn thể hiện được trách nhiệm trong việc bảo vệ sự công bằng xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong hoạt động xét xử, đảm bảo nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật góp phần giữ gìn kỷ cương xã hội, không để các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức xã hội và Nhà nước bị xâm phạm. Các vị hội thẩm am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm trong xét xử, qua đó đã góp phần quan trọng trong công tác xét xử của Toà án. Khi tham gia xét xử các vị hội thẩm đã đóng góp những ý kiến xác đáng, đúng quy định pháp luật góp phần quan trọng cho việc vận dụng đường lối xét xử phù hợp với từng vụ án cụ thể, tích cực giáo dục pháp luật nhằm phòng ngừa vi phạm, nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, tăng cường ý thức “sống và làm việc theo hiện pháp và pháp luật.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Thế nào là che giấu tội phạm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Che giấu tội phạm được quy định tại Điều 18 BLHS

Tình thế cấp thiết là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Tình thế cấp thiết được quy định tại Điều 23 BLHS

Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội gồm 03 hình phạt chính và 03 hình phạt bổ sung

Các hình phạt đối với người phạm tội là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Các hình phạt đối với người phạm tội gồm 07 hình phạt chính và 07 hình phạt bổ sung