Những trường hợp nào bị tăng nặng trách nhiệm hình sự?

Các tình tiết tăng nặng chính là một trong 03 căn cứ chính để quyết định hình phạt đối với người và pháp nhân thương mại phạm tội . Vậy các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết nào? Luật Hoàng Anh xin giải đáp thắc mắc trên trong bài viết dưới đây.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 52 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau:

Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội 02 lần trở lên;

h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên;

k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội;

n) Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

2. Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.”

2. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Tương quan về số lượng thì các tình tiết giảm nhẹ cũng nhiều hơn các tình tiết tăng nặng. Kiểu quy định như vậy thể hiện rất rõ quan điểm của nhà làm luật, chính sách của nhà nước một cách nhất quán - hạn chế tối đa khả năng lạm quyền của cơ quan tố tụng cũng như tận dụng tối đa những yếu tố có lợi cho người phạm tội.

Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự quy định 15 tình tiết tăng nặng có thể chia làm 02 nhóm như sau:

2.1. Các tình tiết ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội gồm 14 tình tiết

- Phạm tội có tổ chức;

Đây là tình tiết tăng nặng đầu tiên mà cũng là tình tiết tăng nặng được áp dụng khá phổ biến. Tính tổ chức ở đây làm cho tội phạm trở nên nguy hiểm hơn nhiều khi thực hiện cũng như khả năng phát hiện, xử lý sẽ khó khăn hơn do đó phạm tội có tổ chức xứng đáng là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. 

Khoản 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự cũng đưa ra quy định về “phạm tội có tổ chức”: Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

Trong đó phạm tội có tổ chức có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn ở “sự cấu kết chặt chẽ” giữa những đồng phạm. Đặc điểm này vừa thể hiện mức độ liên kết về mặt chủ quan vừa thể hiện sự phân chia vai trò, nhiệm vụ về mặt khách quan của đồng phạm, cụ thể:

+ Nhóm tội phạm được hình thành để hoạt động lâu dài, bền vững. Có người chỉ huy và những người còn lại trong nhóm có nhiệm vụ phực tùng mệnh lệnh của chỉ huy.

+ Nhóm phạm tội có sự chuẩn bị cẩn thận, đầy đủ cho việc thực hiện tội phạm và cũng có sự chuẩn bị kĩ lưỡng cho việc che giấu tội phạm.

Như vậy, đồng phạm có tổ chức cho phép phạm tội liên tục, gây ra hậu qua lớn nhưng khó để phát hiện.

Vụ án Năm Cam và đồng phạm là vụ án điển hình về tội phạm có tổ chức đặc biệt, đây là một vụ án lớn và phức tạp, liên quan đến nhiều đối tượng, nhiều địa phương. Trương Văn Cam là đối tượng hình sự đặc biệt nguy hiểm, hoạt động phạm tội có tổ chức theo kiểu "xã hội đen", liên tục gây ra nhiều tội ác trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành trong nước trong một thời gian dài với nhiều hành vi dã man, tàn bạo; thủ đoạn trắng trợn, thâm độc gây nên phẫn nộ lớn trong dư luận dân cư.

- Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

Trường hợp phạm tội thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần và việc phạm tội là nguồn sống, nguồn thu nhập chính của họ. Trường hợp phạm tội này thể hiện tính nguy hiểm cao hơn so với những trường hợp phạm tội thông thường, vì vậy được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc xử lí được nêu tại điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 là nghiêm trị người phạm tội “có tính chất chuyên nghiệp”.

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một cong vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội là tội phạm xảy ra là do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện và hành vi phạm tội đó có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ, nếu họ không có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó có thể thực hiện việc phạm tội; chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện tội phạm một cách dễ dàng. Tuy nhiên, người phạm tội  có việc lợi dụng chức vụ để phạm tội thì mới bị coi là có tình tiết tăng nặng. Nếu tội phạm do họ thực hiện không liên quan gì đến chức vụ, quyền hạn của họ thì dù họ có chức vụ, quyền hạn thì cũng không bị coi là có tình tiết tăng nặng này.  

Ví dụ: B là bảo vệ trường tiểu học A, B lợi dụng chức vụ của mình để mở cửa trường, phối hợp với các đồng phạm khác để bắt cóc cháu H (học trường A) và tống tiền gia đình cháu. Trường hợp này, sẽ áp dụng tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội”. Mặt khác nếu B vẫn là bảo vệ trường tiểu học nhưng xảy ra mâu thuẫn với C, dẫn đến xô sát với C gây cho C thương tích 12%., trong trường hợp này, chức vụ bảo vệ không phải tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Phạm tội có tính chất côn đồ;

Phạm tội có tính chất côn đồ là tường hợp người phạm tội thể hiện sự hung hãn, manh động, bất chấp lý do, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác.

Ví dụ: Chỉ vì hiểu lầm nhỏ trong cuộc sống mà người phạm tội đã đâm chết người bị hại.

- Phạm tội vì động cơ đê hèn;

Động cơ là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm, đê hèn là thấp kém, hèn hạ đáng khinh bỉ, không thể chấp nhận được. Đây là tình tiết tăng nặng mà ít nhiều sẽ phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của hội đồng xét xử cũng như nhận định của Viện Kiểm sát. Thực tế có nhiều tình tiết có thể xếp vào động cơ đê hèn như giết vợ (chồng) để được lấy bồ nhí, giết người yêu để để trốn tránh trách nhiệm làm cha đối với thai nhi, giết chủ nợ để trốn nợ ...

- Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

Cố tình hay cố ý nghĩa là trong quá trình thực hiện tội phạm, người phạm tội đã vấp phải sự phản kháng, có thể là sự chống trả từ chính nạn nhân hoặc cũng có thể là sự can thiệp từ những người xung quanh nhưng vẫn không có ý định dừng việc phạm tội mà quyết tâm vượt qua trở ngại để tiếp tục thực hiện đến cùng tội phạm mà mình mong muốn. Rõ ràng đây là một tình tiết tăng nặng thể hiện sự không dừng lại, quyết tâm cao độ của người thực hiện tội phạm. Và trong trường hợp này, lỗi của người phạm tội nghiêm trọng hơn trường hợp bình thường.

- Phạm tội 02 lần trở lên;

Đây là trường hợp phạm tội mà trước đó người phạm tội đã phạm tội này ít nhất là một lần và chưa bị xét xử.

- Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

Điều 53 Bộ luật hình sự quy định:

Điều 53. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm    

1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.”

Tái phạm là việc lặp lại hành vi phạm tội kèm theo 02 điều kiện sau:

+ Đã bị kết án và chưa xóa án tích;

+ Phạm tội do cố ý hoặc phạm tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Tái phạm nguy hiểm gồm 02 trường hợp như sau:

+ Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.

+ Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

- Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên;

Trước đây, tình tiết này được ghi nhận tại điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 là “phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác”. Ở đây, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã tách tình tiết này thành hai và quy định rất rõ ràng về độ tuổi của trẻ em là dưới 16 tuổi và người già là “đủ 70 tuổi trở lên”. Theo quy định này, các đối tượng bị xâm hại ở đây là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt, là những người không có, hoặc khả năng tự vệ thấp cần phải được người khác bảo vệ. Hành vi phạm tội ở đây đã xâm phạm đến chính sách bảo vệ của Nhà nước đối với trẻ em, phụ nữ có thai và người cao tuổi. Do vậy, những trường hợp phạm tội đối với các đối tượng đặc biệt này thể hiện mức độ nguy hiểm cao hơn so với các trường hợp khác.

- Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

Đây là tình tiết được tách ra từ điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999, đồng thời được bổ sung thêm một số đối tượng bị tội phạm xâm hại. Trước đây, chỉ các đối tượng là người “ở trong tình trạng không thể tự vệ được” hoặc người lệ thuộc vào người phạm tội về mặt vật chất, tình thần, công tác hoặc các mặt khác mới được bảo vệ đặc biệt. Hành vi phạm tội đối với những người này được xem là nghiêm trọng hơn những trường hợp bình thường. Người ở trong tình trạng không thể tự vệ được là người do thể trạng yếu đuối hoặc bệnh tật dẫn đến không có khả năng chống lại hành vi phạm tội, không có khả năng tự bảo vệ mình. Người lệ thuộc vào người phạm tội là những người khống chế bởi các mối quan hệ ràng buộc với người phạm tội về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác như tôn giáo, tín ngưỡng,…

Hiện nay, trong Bộ luật Hình sự năm 2015, các đối tượng được bảo vệ đặc biệt đã được mở rộng thêm, bao gồm cả “người khuyết tật nặng hoặc người khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức”.

Theo Khoản 2 Điều 3 Luật người khuyết tật số: 51/2010/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2010 quy định:

“2. Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

b) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

c) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này.”

Quy định mở rộng đối tượng trong tình tiết này thể hiện chính sách bảo vệ đặc biệt đối với nhóm đối tượng yếu thế, không có hoặc hạn chế khả năng tự vệ.

- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

Đây là trường hợp người phạm tội đã lợi dụng hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, phức tạp của xã hội để dễ dàng thự chiện tội phạm. Hành vi phạm tội có tình tiết này có tính chất nghiêm trọng hơn trường hợp phạm tội thông thường bởi nó không chỉ cản trở sự khắc phục khó khăn mà còn làm tăng thêm khó khăn đang có của xã hội.

- Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội;

Đây là trường hợp phạm tội có thủ đoạn không bình thường làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Thủ đoạn tinh vi là thủ đoạn phạm tội kín đáo, phức tạp, khó nhận biết; thủ đoạn xảo quyệt là thủ đoạn phạm tội gắn liền với những mánh khóe, cách thức gian dối, thâm hiểm; thủ đoạn tàn ác là thủ đoạn phạm tội có tính thâm độc, tàn nhẫn, có tính man rợ...

- Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

Người thực hiện tội phạm không nhất thiết phải hướng tới việc gây hại cho nhiều người nhưng do thủ đoạn và phương tiện thực hiện lại có khả năng gây nguy hại cho nhiều người. Ở đây là có khả năng chứ không bắt buộc hậu quả gây hại cho nhiều người đã xảy ra.

Ví dụ, A muốn giết B nên đã bỏ thạch tín vào giếng nước nhà ông A, khi đó sẽ áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội”.

- Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

Đây là trường hợp người phạm tội kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm.

2.2. Các tình tiết phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội chỉ gồm 01 tình tiết duy nhất.

Điểm p Khoản 1: Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

 Đây là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm, người phạm tội có hành vi gian dối, quỷ quyệt hoặc có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực đối với người khác nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

3. Quy định của pháp luật về trường hợp các tình tiết tăng nặng là tình tiết định khung hình phạt

Khoản 2 Điều 52 quy định: “Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”.

Tình tiết định tội là tình tiết mà trong cấu thành tội phạm đó bắt buộc phải có, nếu không có tình tiết đó thì sẽ không phạm tội đó. Khi đã thỏa mãn dấu hiệu cấu thành một tội phạm (phạm tội gì) thì việc tiếp theo là xác định mức phạt cụ thể đối với tội đó là bao nhiêu, khi này khái niệm khung hình phạt bắt đầu được xem xét đến. Sau khi xem xét lựa chọn khung hình phạt xong mới xét đến mức hình phạt nào. Các tình tiết tăng nặng chỉ có ý nghĩa khi xác định mức hình phạt, do đó khi tình tiết tăng nặng nào đó đã được dùng để định tội và dùng để định khung thì sẽ không áp dụng để xem xét định lượng hình phạt nữa vì như vậy 1 tình tiết tăng nặng lại áp dụng đến 02 lần.

Luật Hoàng Anh

 

 

 

 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Khi nào Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng quy định tại Điều 54 BLHS

Thế nào là tái phạm, tái phạm nguy hiểm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 01/07/2021

Tái phạm, tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 53 BLHS

Hình phạt được quyết định như thế nào trong trường hợp phạm nhiều tội?

Hỏi đáp luật Hình Sự 01/07/2021

Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội quy định tại Điều 55 BLHS

Làm thế nào để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án?

Hỏi đáp luật Hình Sự 01/07/2021

Cách tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại Điều 56 BLHS