Phân biệt Tội lây truyền HIV cho người khác và Tội cố ý truyền HIV cho người khác như thế nào?

Nếu chỉ đọc lướt qua, nhiều người sẽ thắc mắc tại sao các nhà làm luật lại đưa ra hai quy định cùng điều chỉnh một hành vi phạm tội là cố ý khiến người bị hại nhiễm HIV như vậy? Tuy nhiên khi đi sau vào phân tích hai điều luật này, ta mới thấy được sự khác biệt của nó. Trong bài viết dưới đây, Luật Hoàng Anh sẽ làm rõ nội dung khác nhau của hai loại tội phạm trên.

Nội dung

Tội lây truyền HIV cho người khác

Tội cố ý truyền HIV cho người khác

Căn cứ pháp lý

Điều 148 Bộ luật Hình sự

Điều 149 Bộ luật Hình sự

Khách thể

Khách thể của tội phạm là quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người và sự an toàn của cả cộng đồng trước bệnh tật.

Mặt khách quan

Người phạm tội biết được mình đã bị nhiễm HIV, nhưng vì động cơ nào đó nên đã có hành vi truyền bệnh này cho người khác. Người phạm tội có các hành vi như: dùng kim tiêm chọc vào người mình rồi chọc vào người khác; dùng dao, mảnh chai rạch tay, chân mình cho máu dính vào rồi rạch vào người khác; đem máu của mình cho người khác, quan hệ tình dục bừa bãi với người khác. Ví dụ có cô gái khi biết mình bị nhiễm HIV đã hận đời và tiêu cực nên đã quan hệ tình dục bừa bãi với rất nhiều người với ý thức là mình chết thì cũng cho nhiều người chết theo. Trường hợp người mẹ nhiễm HIV đã đẻ ra con cũng bị nhiễm bệnh này thì không phạm tội.

Tuy nhiên Điều 147 Bộ luật Hình sự có loại trừ một trường hợp không bị coi là phạm tội lây truyền HIV cho người khác trường hợp nạn nhân đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục. Theo đó, điều kiện để người lây truyền HIV cho người khác bị coi là phạm tội là nạn nhân không biết rằng người quan hệ tình dục với mình bị nhiễm HIV.

Hậu quả xảy ra là người khác cũng bị nhiễm HIV. Căn cứ để xác định nạn nhân có bị nhiễm bệnh hay không phải dựa vào xét nghiệm của cơ quan y tế có thẩm quyền. Nếu nạn nhân không bị nhiễm bệnh thì không cấu thành tội này. Phải làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xảy ra. Nạn nhân bị nhiễm HIV phải do lây lan từ người phạm tội, nếu nạn nhân bị nhiễm HIV do lây lan từ nguồn lây khác thì người đó không phạm tội này.

Tội phạm hoàn thành kể từ khi hậu quả nạn nhân bị nhiễm HIV xảy ra. Trường hợp nạn nhân không bị nhiễm HIV nhưng đã có hành vi lây truyền, người phạm tội phải chịu trách nhiệm với trường hợp phạm tội chưa đạt.

Người phạm tội không bị nhiễm HIV nhưng đã cố ý truyền HIV từ người này sang người khác.

Người phạm tội có các hành vi như: dùng kim tiêm chọc vào người bị nhiễm bệnh rồi chọc vào người khác; dùng dao, mảnh chai rạch tay, chân người bị nhiễm bệnh cho máu dính vào rồi rạch vào người khác; đem máu của người bị nhiễm HIV cho người khác.

Ngoài ra, người phạm tội còn có hành vi khác như dùng các thủ đoạn làm cho những bình, túi máu sạch dự trữ trong các bệnh viện trở thành máu bị nhiễm vi rút HIV với ý thức để truyền bệnh này cho nhiều người khác. Trong trường hợp hành vi của người phạm tội mới chỉ làm nhiễm vi rút HIV trong các túi hoặc bình máu dự trữ, chưa truyền máu đó cho người khác đã bị phát hiện, ngăn chặn kịp thời thì người phạm tội vẫn bị truy tố về tội cố ý truyền bệnh HIV cho người khác nhưng ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.

Hậu quả xảy ra là người khác cũng bị nhiễm HIV. Căn cứ để xác định nạn nhân có bị nhiễm bệnh hay không phải dựa vào xét nghiệm của cơ quan y tế có thẩm quyền. Nếu nạn nhân không bị nhiễm bệnh thì không cấu thành tội này. Phải làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xảy ra. Nạn nhân bị nhiễm HIV phải do lây lan từ người phạm tội, nếu nạn nhân bị nhiễm HIV do lây lan từ nguồn lây khác thì người đó không phạm tội này.

Dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu để xác định tội phạm hoàn thành. Giữa hậu quả và hành vi của người phạm tội phải có mối quan hệ nhân quả. Tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi truyền HIV từ người bệnh, nguồn bệnh sang cho người khác và chính bởi hành vi đó khiến cho nạn nhân nhiễm HIV. Trường hợp nạn nhân chưa nhiễm HIV nhưng người phạm tội đã thực hiện các hành vi thuộc mặt khách quan kể trên thì người đó vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt.

Chủ thể

Chủ thể của tội lây truyền HIV cho người khác là chủ thể đặc biệt.

Thứ nhất, họ phải là người nhiễm HIV. Họ là nguồn bệnh và có mong muốn lây lan để mọi người xung quanh cùng bị HIV giống mình. Thời điểm họ thực hiện hành vi có thể là lúc họ mới bị HIV những cũng có thể là lúc họ đã chuyển sang giai đoạn AIDS, vì biết bệnh tình đã trở nặng, khó có thể tiếp tục sống mà muốn lây bệnh cho người khác. Chủ thể của tội này có thể là một người nhưng cũng có thể là nhiều người bụ nhiễm HIV và cùng mong muốn lây lan HIV cho những người xung quanh.

Thứ hai, chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Bộ luật hình sự.

Thứ ba, chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi.

Điều 149 Bộ luật Hình sự quy định chủ thể của tội cố ý truyền HIV cho người khác là người không thuộc trường hợp quy định tại Điều 148 của Bộ luật này. Vì thế, có thể hiểu chủ thể của tội phạm này là người không bị nhiễm HIV hoặc có bị nhiễm HIV nhưng vi rút HIV mà họ truyền cho người khác không phải vi rút HIV trong cơ thể của họ mà viruss từ cơ thể của người khác.

Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân thực hiện hành vi truyền HIV một mình nhưng cũng có thể là người thực hành; người tổ chức; người xúi giục hoặc người giúp sức trong vụ án đồng phạm cố ý truyền HIV cho người khác.

Tuy nhiên ngoài điều kiện chủ thể không phải là người bị nhiễm HIV được quy định riêng biệt trong Điều 149 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội phải đáp ứng được điều kiện từ đủ 16 tuổi trở lên theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự và điều kiện có đủ năng lực trách nhiệm hình sự gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi.

Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện việc lây truyền HIV cho người khác với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội hoàn toàn biết rõ mình bị HIV và mong muốn người khác cũng bị nhiễm HIV như mình. Nếu một người không biết mình bị HIV mà vô tình lây lan cho người khác thì không phạm tội này.

Người phạm tội thực hiện việc truyền HIV cho người khác với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội hoàn toàn biết rõ hành vi truyền  HIV sẽ gây ra hậu quả làm nạn nhân bị HIV và mong muốn hậu quả ấy xảy ra. Hành vi truyền HIV cho người khác nguy hiểm hơn nhiều so với hành vi lây truyền HIV cho người khác nên nhà làm luật coi hành vi truyền HIV là hành vi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, còn hành vi lây truyền HIV nhà làm luật chỉ coi là hành vi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng.

Hình phạt

Điều 148 Bộ luật Hình sự quy định 02 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt tù từ 01 năm đến 03 năm đối với người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người khác, trừ trường hợp nạn nhân đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục.

- Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Đối với 02 người trở lên; đối với người dưới 18 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 145 của Bộ luật này; đối với phụ nữ mà biết là có thai; đối với thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trực tiếp chữa bệnh cho mình; đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Điều 149 Bộ luật Hình sự quy định 04 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với người nào cố ý truyền HIV cho người khác.

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức; đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đối với người dưới 18 tuổi; đối với từ 02 người đến 05 người; lợi dụng nghề nghiệp; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 31% đến 60%.

- Khung hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân  khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: đối với phụ nữ mà biết là có thai; đối với 06 người trở lên; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 61% trở lên; làm nạn nhân tự sát.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Những điểm mới của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021

Hỏi đáp luật Hình Sự 13/06/2021

Ngày 30/3/2021 Quốc hội thông qua Luật phòng, chống ma túy năm 2021 với 8 chương, 55 điều. Luật này bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2022.

Tội sản xuất trái phép chất ma túy là gì? Pháp luật hình sự quy định khung hình phạt như thế nào đối với tội sản xuất trái phép chất ma túy?

Hỏi đáp luật Hình Sự 13/06/2021

Tội sản xuất trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 2015 cùng bốn khung hình phạt chính và một khung hình phạt bổ sung

Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ quy định tại Điều 137 BLHS

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có điểm gì giống và khác nhau?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

So sánh tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác