Phân biệt Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người như thế nào?

Hai tội phạm trên đều hướng tới mục đích lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân nhưng hành vi phạm tội hoàn toàn khác biệt. Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ chỉ ra sự khác biệt của Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người.

Nội dung

Tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân

Tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người

Căn cứ pháp lý

Điểm b Khoản 3 Điều 150 Bộ luật Hình sự

Điều 154 Bộ luật hình sự

Khách thể

Mua bán người là hành vi coi con người như là một loại hàng để mua, bán, trao đổi kiếm lời.

Tội phạm xâm phạm nhân phẩm, danh dự, quyền tự do của con người. Do đó, khách thể của tội phạm là quyền tự do, nhân phẩm, danh dự, quyền được Nhà nước bảo hộ về thân thể, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người và sự an toàn của toàn xã hội.

Mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là hành vi lấy đi bộ phận của cơ thể người còn sống trái pháp luật.

Tội phạm xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, thân thể, sức khỏe của người khác, tội phạm còn gián tiếp gây tâm lý hoang mang cho người dân, gây bức xúc trong xã hội.

Do đó, khách thể của tội phạm là quyền sống, quyền được Nhà nước bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người và sự ổn định của xã hội.

Mặt khách quan

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn nhằm mua bán người để lấy bộ phận cơ thể nạn nhân.

Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp nạn nhân để chuyển giao nhằm lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân. Bộ phận cơ thể là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định của con người. Ví dụ: Nguyễn Văn A đã chuyển giao Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B để B lấy giác mạc của C (trên thực tế B chưa có hành vi lấy giác mạc của C).

Dùng vũ lực

Hành vi dùng vũ lực trong tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể gồm các hành vi như: giữ chân tay, bịt mồm, đánh đấm, trói v.v... Những hành vi này chủ yếu làm tê liệt sự kháng cự của người bị hại để người phạm tội  thực hiện được việc mua bán người và lấy bộ phận cơ thể.

Đe doạ dùng vũ lực

Đe doạ dùng vũ lực là hành vi của một người dùng lời nói hoặc hành động uy hiếp tinh thần của người khác, làm cho người bị đe dọa sợ hãi như: doạ giết, dọa đánh, dọa bắn... làm cho người bị hại sợ hãi phải để cho người phạm tội đem mình ra trao đổi.

Lừa gạt

Lừa gạt là dùng lời nói hoặc lợi ích vật chất để hứa hẹn với nạn nhân để nạn nhân nghe theo mình.

Thủ đoạn khác là các thủ đoạn như: bắt cóc; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi; đầu độc nạn nhân; lợi dụng việc môi giới hôn nhân, môi giới đưa người đi lao động ở nước ngoài; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng tình thế bị lệ thuộc; lợi dụng tình thế dễ bị tổn thương hoặc tình trạng quẫn bách của nạn nhân (ví dụ: lợi dụng tình trạng nạn nhân có người thân bị bệnh hiểm nghèo cần tiền chữa trị ngay, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng) để thực hiện một trong các hành vi mua bán người để lấy bộ phận cơ thể nạn nhân.

Tội phạm hoàn thành khi hậu quả bộ phận cở thể nạn nhân bị lấy đi xảy ra, trường hợp hậu quả nạn nhân bị lấy đi bộ phận cơ thể chưa xảy ra thì người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người.

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm gồm 02 hành vi là hành vi mua bán và hành vi chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.

Mua bán mô, bộ phận cơ thể người là hành vi trao đổi mô, bộ phận cơ thể người để nhận được tiền bạc, tài sản hay các lợi ích khác, bên bán có trách nhiệm chuyển giao mô, bộ phận cơ thể theo yêu cầu của bên mua, còn bên mua sẽ tiếp nhận mô, bộ phận cơ thể từ bên bán và có nghĩa vụ chi trả tiền, tài sản hoặc lợi ích khác khi bên bán giao đúng mô, bộ phận cơ thể mà bên mua yêu cầu.

Chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ mô, bộ phận cơ thể người.

Điều 3 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác số 76/2006/QH11 ngày 29/11/2006 quy định:

là tập hợp các tế bào cùng một loại hay nhiều loại khác nhau để thực hiện các chức năng nhất định của cơ thể người.

Bộ phận cơ thể người là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định.

Nạn nhân bị lấy mô, bộ phận cơ thể phải là người đang sống, việc lấy mô, bộ phận cơ thể có thể gây chết người nhưng cũng có thể không gây chết người. Nếu nạn nhân bị lấy mô, bộ phận cơ thể chết thì đó là tình tiết tăng nặng hình phạt đối với người phạm tội.

Tội phạm hoàn thành khi có hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác. Dấu hiệu hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc, dù người phạm tội có mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể thành công hay chưa thì tội phạm cũng sẽ hoàn thành khi có hành vi mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể xảy ra. Dấu hiệu mô, bộ phận cơ thể chỉ có ý nghĩa xác định hình phạt.

 

Chủ thể

Chủ thể của tội mua bán người là bất kì người nào từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội mua bán người là người từ đủ 14 tuổi trở lên theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên trong thực tiễn xét xử tội phạm, tội phạm mua bán người để lấy bộ phận cơ thể thường được thực hiện bởi chủ thể là người đã thành niên (người từ đủ 18 tuổi trở lên).

Chủ thể của tội mua bán mô hoặc bộ phận cơ thể người là bất kì ai có năng lực trách nhiệm hình sự từ 16 tuổi trở lên.

Theo Khoản 1 Điều 16 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về mọi loại tội phạm, Khoản 2 Điều này quy định một số tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Khoản 2 Điều 16 đã liệt kê các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng không bao gồm tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người. Do vậy, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người là người từ đủ 16 tuổi.

Mặt chủ quan

Tội mua bán người được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội hoàn toàn nhân thức được hậu quả xâm hại đến danh dự nhân phẩm, thậm chí là thân thể, tính mạng của nạn nhân, coi nạn nhân làm công cụ để kiếm lợi ích. Tuy nhận thức rõ hậu quả như vậy nhưng người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm, mong muốn để cho hậu quả đó xảy ra.

Mục đích thực hiện tội phạm mua bán người là lấy bộ phận cơ thể nạn nhân.

Chủ thể thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội hoàn toàn nhận thức rõ được hậu quả xâm hại đến sức khỏe, thân thể của nạn nhân, coi mô, bộ phận cơ thể nạn nhân là công cụ để kiếm lời hoặc vì mục đích khác và hoàn toàn mong muốn hậu quả xảy ra.

Mục đích chủ yếu của việc mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người là mục đích thương mại, mục đích cấy ghép, chữa bệnh cho người khác hoặc vì mục đích nghiên cứu khoa học,...

Hình phạt

- Người phạm tội mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Điều 154 Bộ luật Hình sự quy định 04 khung hình phạt đối với người phạm tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người như sau:

- Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Có tổ chức; Vì mục đích thương mại; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp; Đối với từ 02 người đến 05 người; Phạm tội 02 lần trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

- Khung hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: Có tính chất chuyên nghiệp; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Đối với 06 người trở lên; Gây chết người; Tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội cố ý truyền HIV cho người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/06/2021

Tội cố ý truyền HIV cho người khác quy định tại Điều 149 BLHS

Tội lây truyền HIV cho người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/06/2021

Tội lây truyền HIV cho người khác quy định tại Điều 148 BLHS

Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/06/2021

Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm quy định tại Điều 147 BLHS