Phân biệt tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm với tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi như thế nào?

Hai tội phạm này đều cùng có nạn nhân là người dưới 16 tuổi. Tuy không có mục đích giao cấu với nạn nhân nhưng vẫn dùng nạn nhan để thỏa mãn nhu cầu sinh lý hay thú tính của bản thân người phạm tội. Vậy hai tội phạm này có gì khác nhau mà pháp luật hình sự phải quy định thành 02 tội riêng biệt. Luật Hoàng Anh sẽ giải đáp vấn đề này trong bài viết dưới đây.

Nội dung

Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm

Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Căn cứ pháp lý

Điều 147 Bộ luật Hình sự

Điều 146 Bộ luật Hình sự

Khách thể

Khách thể của tội phạm là quyền bất khả xâm phạm về tình dục, thân thể, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người dưới 16 tuổi, sự phát triển bình thường về thể chất, tâm lý của trẻ em và trật tự trị an của xã hội.

Mặt khách quan

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm là hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức.

Lôi kéo,dụ dỗ là hành vi dùng lời nói dịu ngọt và lợi lộc để khiến người khác nghe theo mình mà thực hiện trình diễn khiêu dâm hoặc chứng kiến trình diễn khiêu dâm.

Ép buộc là hành vi sử dụng lời nói hoặc vũ lực để bắt người dưới 16 tuổi thực hiện trình diễn khiêu dâm, hoặc chứng kiến trình diễn khiêu dâm.

Theo Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi quy định:

Trình diễn khiêu dâm là hành vi dùng cử chỉ, hành động, lời nói, chữ viết, ký hiệu, hình ảnh, âm thanh nhằm kích thích tình dục người dưới 16 tuổi; phô bày bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, khỏa thân, thoát y hoặc thực hiện các động tác mô phỏng hoạt động tình dục (bao gồm giao cấu, thủ dâm và các hành vi tình dục khác) dưới mọi hình thức.

Trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm là trường hợp người dưới 16 tuổi trực tiếp chứng kiến người khác trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức.

Các hình thức biểu hiện trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm bao gồm:

a) Trực tiếp trình diễn khiêu dâm trước mặt người dưới 16 tuổi hoặc dụ dỗ người dưới 16 tuổi trực tiếp trình diễn khiêu dâm;

b) Chiếu trực tiếp cảnh trình diễn khiêu dâm có sự tham gia của người dưới 16 tuổi;

c) Dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc người dưới 16 tuổi tự chụp, quay lại cảnh trình diễn khiêu dâm của mình sau đó phát tán;

d) Dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc người dưới 16 tuổi khỏa thân và truyền tải trực tiếp âm thanh, hình ảnh qua internet (livestream);

đ) Trình chiếu các ấn phẩm đồi trụy có sử dụng người dưới 16 tuổi hoặc hình ảnh mô phỏng người dưới 16 tuổi (hoạt hình, nhân vật được tạo ra bằng công nghệ số);

e) Mô tả bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của con người, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết này;

g) Các hình thức biểu hiện khác của trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm.

Tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm có hành vi dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm xảy ra.

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.

Theo Khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Dâm ô là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục, gồm một trong các hành vi sau đây:

a) Dùng bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát...) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi;

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: tay, chân, miệng, lưỡi...) tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm...) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;

c) Dùng dụng cụ tình dục tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát...) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;

d) Dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi dùng bộ phận khác trên cơ thể của họ tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm...) với bộ phận nhạy cảm của người phạm tội hoặc của người khác;

đ) Các hành vi khác có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục (ví dụ: hôn vào miệng, cổ, tai, gáy... của người dưới 16 tuổi).

Nạn nhân của tội phạm này là trẻ em - người dưới 16 tuổi.

Tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm thực hiện hành vi dâm ô.

Chủ thể

Chủ thể của tội là bất kì cá nhân nào từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định loại trừ xử lý hình sự đối với trường hợp người làm công tác giáo dục, khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế mô tả bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của con người vì mục đích giáo dục, khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế.

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định loại trừ xử lý hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người trực tiếp chăm sóc, giáo dục người dưới 10 tuổi, người bệnh, người tàn tật, có hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của họ nhưng không có tính chất tình dục (ví dụ: cha, mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con dưới 10 tuổi; giáo viên mầm non tắm rửa, vệ sinh cho trẻ mầm non...);

b) Người làm công việc khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế; người cấp cứu, sơ cứu người bị nạn có hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi nhưng không có tính chất tình dục (ví dụ: bác sĩ khám, chữa bệnh cho bệnh nhân; sơ cứu, cấp cứu người bị tai nạn, người bị đuối nước...).

Mặt chủ quan

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận biết rõ đối tượng là trẻ em dưới 16 tuổi và hành vi phạm tội nhằm mục đích để trẻ em phô bày thân thể chứ không nhằm mục đích giao câu hay quan hệ tình dục khác. Dấu hiệu mục đích này là dấu hiệu để phân biệt tội này với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi hay dâm ô với người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên người phạm tội nhân thức được hành vi của mình không nhằm mục đích giao cấu nhưng nhằm mục đích thỏa mãn thú tính, thỏa mãn dục vọng của người phạm tội, biết được hành vi của mình có thể gây hậu quả xâm hại đến đứa trẻ nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra.

 

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận biết rõ đối tượng là trẻ em dưới 16 tuổi và hành vi phạm tội không nhằm mục đích giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác đối với người dưới 16 tuổi. Dấu hiệu mục đích này là dấu hiệu để phân biệt tội dâm ô với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên người phạm tội nhân thức được hành vi của mình không nhằm mục đích giao cấu nhưng nhằm mục đích thỏa mãn thú tính, thỏa mãn dục vọng của người phạm tội, biết được hành vi của mình có thể gây hậu quả xâm hại đến đứa trể nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra.

 

Hình phạt

Điều 146 Bộ luật hình sự quy định 04 khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm

-Khung hình phạt phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm trong trường hợp người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức.

- Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; có mục đích thương mại; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 12 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; làm nạn nhân tự sát.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 146 Bộ luật hình sự quy định 04 khung hình phạt về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi như sau:

- Khung hình phạt phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm trong trường hợp người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác.

- Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 12 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; làm nạn nhân tự sát.

- Khung hình phạt bổ sung, Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội mua bán người là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội mua bán người quy định tại Điều 150 BLHS

Tội cố ý truyền HIV cho người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/06/2021

Tội cố ý truyền HIV cho người khác quy định tại Điều 149 BLHS

Tội lây truyền HIV cho người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/06/2021

Tội lây truyền HIV cho người khác quy định tại Điều 148 BLHS