Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về biện pháp tạm giam?

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng, đây là biện pháp điển hình áp dụng đối với các bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng và phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Và để đảm quyền con người, quyền công dân theo yêu cầu của Hiến pháp của 2013, việc áp dụng biện pháp tạm giam sẽ phải thực hiện đúng theo quy định, trình tự thủ tục của BLTTHS 2015.

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) tuân thủ pháp luật về tạm giam được quy định như sau:

“Điều 119. Tạm giam

1. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

2. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:

a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

3. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

4. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:

a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

b) Tiếp tục phạm tội;

c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;

d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

5. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh, quyết định tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.

6. Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị tạm giam cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam làm việc, học tập biết.”

Điều luật được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Điều 88 BLTTHS 2003, quy định về đối tượng, thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.

2. Khái niệm và đối tượng áp dụng biện pháp tạm giam

Tạm giam là một biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhằm cách ly một người khỏi xã hội trong một thời gian nhất định và hạn chế một số quyền công dân của người đó của người đó nhằm bảo đảm cho hoạt động tố tụng được tiến hành thuận lợi.

Biện pháp tạm giam được áp dụng trong các trường hợp sau:

-  Bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng. Căn cứ tại Điều 9 BLHS 2015, sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2017 quy đinh: “Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”

- Bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:  Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án, đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

- Bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS 2015 quy định hình phạt tù đến 02 năm nhưng họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

Nhằm bảo đảm tính nhân đạo của pháp luật, Điều luật cũng quy định loại trừ việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai, hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng. Những đối tượng này chỉ có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam trong các trường hợp: Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; Tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này; Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

3. Những chủ thể có thẩm quyền ra lệnh, quyết định tạm giam

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;

- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.

4. Thủ tục tạm giam

- Lệnh tạm giam của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan Điều tra  phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.

- Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị tạm giam cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam làm việc, học tập biết.

5. Những điểm mới của Điều luật so với BLTTHS 2003

- Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS) đã loại bỏ các yếu tố định tính và quy định rõ các căn cứ tạm giam. Theo đó, ngoài việc tạm giam (bắt buộc) đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, việc tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiệm trọng, tội ít nghiêm trọng mà BLHS 2015 quy định hình phạt tù trên 02 năm chỉ được áp dụng khi thuộc một trong 7 trường hợp sau:

- Thứ nhất, đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vấn vi phạm

- Thứ hai, không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

- Thứ ba, bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

- Thứ tư, tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

- Thứ năm, có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật

- Thứ sáu, có hành vi tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án;

- Thứ bảy, có hành vi đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Đặc biệt, BLTTHS 2015 cũng quy định chỉ có thể tạm giam bị can, bị cáo bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm ít nghiêm trọng mà BLHS quy định mức phạt tù đến 2 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

Luật Hoàng Anh

 

 

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tại sao cần phải kiểm tra, đánh giá chứng cứ?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày về nội dung kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành.

Thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được quy định như thế nào trong Bộ luật tố tụng hình sự?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày về việc thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về người chứng kiến?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày các quy định của pháp luật hiện hành về người chứng kiến

BLTTHS 2015 quy định về trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày về trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng

Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng là thời điểm nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày về thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng

Người bào chữa được hiểu như thế nào trong BLTTHS 2015?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày các quy định của pháp luật hiện hành về người bào chữa

Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong pháp luật hiện hành

Chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản của người bị tạm giữ, tạm giam như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày về các quy định của pháp luật về việc chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản của người bị tạm giữ, tạm giam