Pháp luật hình sự quy định như thế nào về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự?

“Trách nhiệm hình sự” của người phạm tội là “trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình”. Pháp luật Hình sự đặt ra quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, trong thời hiệu này, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trái lại quá thời hiệu này, người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đó nữa. Vậy thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là gì, pháp luật quy định như thế nào về thời hiệu này?

1. Căn cứ pháp lý

Điều 27 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự)

“Điều 27. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.”

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Điều 27 Bộ luật hình sự quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự gồm 03 nội dung như sau:

Thứ nhất, Khoản 1 Điều 27 Bộ luật hình sự quy định khái niệm thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: “là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”

Quy định này cụ thể hóa nguyên tắc tại khoản Điểm a Khoản 1 và Điểm a Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Hình sự: “Mọi hành vi phạm tội ... phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật”.

Việc đặt ra một khoảng thời gian để truy tố hình sự sẽ thúc đẩy cơ quan chức năng tiến hành phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng tội phạm. Đồng thời, nhà làm luật cũng nhận định rằng nếu trong một thời gian nhất định, người phạm tội đã tự hối cải, không phạm tội, không trốn tránh sự truy cứu của pháp luật thì việc truy cứu trách nhiệm pháp luật là không cần thiết.

Thứ hai, với mỗi loại loại tội phạm có mức độ nguy hiểm khác nhau. Do đó Khoản 2 Điều 27 Bộ luật hình sự quy định về thời hiệu với 04 loại tội như sau:

- 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng: các tội mà mức phạt cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật hình sự quy định đói với tội ấy là phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.

- 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng: Tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ 03 – 07 năm.

- 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng: Tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ 07 – 15 năm.

- 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ 15-20 năm.

Nếu qua thời gian trên mà các cơ quan chức năng không phát hiện được, hoặc bỏ qua điều tra, truy tố, xét xử thì người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, Khoản 3 Điều 27 Bộ luật hình sự quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nói chung tính từ thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện. Tuy nhiên, thời hạn trên sẽ bị kéo dài trong 02 trường hợp sau đây:

- Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

- Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Luật Hoàng Anh

 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Các hình phạt đối với người phạm tội là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Các hình phạt đối với người phạm tội gồm 07 hình phạt chính và 07 hình phạt bổ sung

Hình phạt là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Khái niệm hình phạt được quy định tại Điều 30 BLHS

Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 29 BLHS

Những trường hợp nào không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Những trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 28 BLHS