So sánh tội chiếm đoạt chất ma túy và tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy?

Cả hai tội phạm tội chiếm đoạt chất ma túy và tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy đều tác động đến chất ma túy – mặt hàng bị pháp luật cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển,... Vậy hai tội phạm kể trên khác nhau như thế nào?

Nội dung

Tội chiếm đoạt chất ma túy

Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

Căn cứ pháp lý

Điều 252 Bộ luật Hình sự

Điều 253 Bộ luật Hình sự

Khách thể

Khách thể của tội phạm là chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Việc bảo quản, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt chất ma tuý, tiền chất ma túy dùng vào việc chữa bệnh hoặc mục đích xã hội phải được Nhà nước cho phép. Hiện nay, việc bảo sản một số chất ma tuý hoặc tiền chất để sản xuất sản phẩm chủ yếu trong lĩnh vực y tế nhằm mục đích chữa bệnh dưới dạng thuốc tân dược và được quy định rất chặt chẽ từ khâu sản xuất đến khâu quản lý, bán và sử dụng.

Mặt khách quan

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi chiếm đoạt chất ma túy.

Hành vi chiếm đoạt chất ma tuý là hành vi cướp chất ma tuý, bắt cóc nhằm chiếm đoạt chất ma tuý, cưỡng đoạt chất ma tuý, cướp giật chất ma tuý, công nhiên chiếm đoạt chất ma tuý, trộm cắp chất ma tuý, lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt chất ma tuý, tham ô chất ma tuý.

Hành vi chiếm đoạt chất ma tuý cũng tương tự như hành vi chiếm đoạt tài sản, tức là người phạm tội phải có ý thức chiếm đoạt chất ma tuý ngay trước, trong khi thực hiện hành vi khách quan của tội phạm.

Nếu người phạm tội không có ý thức chiếm đoạt chất ma tuý hoặc không chứng minh được ý thức chiếm đoạt chất ma tuý mà chỉ nhằm chiếm đoạt tài sản, nhưng sau khi chiếm đoạt được tài sản mới biết trong tài sản còn có chất ma tuý nhưng người phạm tội vẫn cất giữ, vận chuyển hoặc mua bán thì không bị coi là hành vi chiếm đoạt chất ma tuý, mà tuỳ trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội có trách nhiệm hình sự chất chiếm đoạt (cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, trộm cắp tài sản...) và tội tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán trái phép chất ma tuý.

Nếu ngay sau khi chiếm đoạt tài sản người phạm tội mới biết trong tài sản có chất ma tuý và đem chất ma tuý đó nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì không coi là hành vi chiếm đoạt chất ma tuý mà chỉ bị coi là chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, nếu mục đích ban đầu là chiếm đoạt ma tuý nhưng khi thực hiện hành vi chiếm đoạt thì lại không có ma tuý mà chỉ có tài sản thì người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm đoạt ma tuý. Nếu người phạm tội không có mục đích rõ rệt là sẽ chiếm đoạt cái gì ( cái gì cũng được) nhưng khi chiếm đoạt lại là ma tuý thì vẫn bị truy cứu trnh về tội chiếm đoạt ma tuý.

Có thể nói hành vi khách quan của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy cũng tương tự như hành vi khách quan của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý quy định tại Điều 252 Bộ luật hình sự.

Tàng trữ trái phép tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý là cất giữ bất hợp pháp tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý ở bất cứ nơi nào như: Trong nhà ở; phòng làm việc; trụ sở cơ quan, tổ chức; phương tiện giao thông; trong túi quần áo, túi xách... mà không nhằm mục đích mua bán hoặc vận chuyển từ nơi này đến nơi khác mà chỉ nhằm mục đích sản xuất trái phép chất ma tuý.

Vận chuyển trái phép tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma tuý từ nơi này đến nơi khác, từ vị trí này sang vị trí khác, từ người này sang người khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác... bằng bất kỳ phương thức nào (trừ hình thức chiếm đoạt), nhưng đều không nhằm mục đích mua bán mà chỉ nhằm mục đích dùng tiền chất đó vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý.

Mua bán trái phép tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý là bán hay mua để bán lại; vận chuyển tiền chất để bán cho người khác; tàng trữ để bán lại nhằm dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý; hoặc dùng tiền chất để đổi lấy hàng hoá hay dùng hàng hoá để đổi lấy tiền chất.

Bán trái phép tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý cho người khác là dùng tiền chất mà mình có dưới bất kỳ hình thức nào như: mua được, xin được, nhặt được, người khác gửi hoặc chiếm đoạt được để bán cho người khác lấy tiền hoặc lấy tài sản.

Mua tiền chất nhằm bán lại trái phép cho người khác là dùng tiền hoặc tài sản để đổi lấy tiền chất và dùng tiền chất đó bán cho người khác lấy tiền hoặc tài sản. Chỉ khi nào xác định rõ mục đích của người phạm tội mua tiền chất đó là nhằm bán lại nhằm dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý thì mới truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý. Việc xác định này, là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, căn cứ vào các tình tiết của vụ án.

Xin tiền chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác là bằng lời nói hoặc hành động để người khác cho mình tiền chất rồi dùng tiền chất đó đem bán cho người khác lấy tiền hoặc tài sản khác. Việc xin tiền chất ma tuý nhằm bán lại cho người khác trong thực tế  xảy ra nhiều, vì người cho tiền chất thường bị người xin nói dối là sẽ dùng vào việc khác chứ không dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý.

Chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý là hành vi cướp tiền chất, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tiền chất, cưỡng đoạt tiền chất, cướp giật tiền chất, công nhiên chiếm đoạt tiền chất, trộm cắp tiền chất, lừa đảo chiếm đoạt tiền chất, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tiền chất, tham ô tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý.

Hậu quả của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý không phải là yếu tố bắt buộc để định tội. Những thiệt hại do hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý gây ra cho xã hội chính là những thiệt hại phi vật chất ( chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý ). Riêng đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý còn gây ra hậu quả là có một hoặc một số chất ma tuý được sản xuất ra làm tăng số lượng chất ma tuý trong xã hội.

Số lượng tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất chất ma tuý mà người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt cũng được coi là hậu quả của tội phạm, nhưng hậu quả này chỉ là những thiệt hại gián tiếp cho xã hội và đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt, số lượng càng lớn thì thiệt hại cho xã hội càng nhiều và người phạm tội bị phạt càng nặng.

Chủ thể

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất trái phép chất ma túy là từ đủ 16 tuổi trở lên đối với tội phạm theo Khoản 1 Điều luật và từ đủ 14 tuổi trở lên đối với tội phạm theo Khoản 2,3,4, Điều luật này.

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

 

Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt chất ma túy là do cố ý, chỉ có thể là lỗi cố ý trực tiếp. Tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành chiếm đoạt chất ma túy nhưng vẫn cố tình vi phạm.

Người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý thực hiện hành vi phạm tội của mình do lỗi cố ý trực tiếp, tức là nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý nhưng vẫn thực hiện.

Mục đích của người phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, nếu không chứng minh được người phạm tội biết dùng tiền chất vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý thì không truy cứu trách nhiệm hình sự họ về tội “tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý” được mà tuỳ trường hợp cụ thể họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm sở hữu nếu hành vi của họ cấu thành các tội phạm đó.

Hình phạt

Điều 252 Bộ luật Hình sự quy định 05 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

1. Người nào chiếm đoạt chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 249, 250 và 251 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

o) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b)Heroine,Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 253 Bộ luật Hình sự quy định 05 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 50 gam đến dưới 200 gam;

c) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 75 mililít đến dưới 300 mililít.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 200 gam đến dưới 500 gam;

e) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 300 mililít đến dưới 750 mililít;

g) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

h) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 13 năm đến 20 năm:

a) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 500 gam đến dưới 1.200 gam;

b) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 750 mililít đến dưới 1.800 mililít.4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng 1.200 gam trở lên;

b) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích 1.800 mililít trở lên.

5. Trường hợp phạm tội có cả tiền chất ở thể rắn và tiền chất ở thể lỏng thì được quy đổi để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, với tỷ lệ 01 gam tiền chất ở thể rắn tương đương với 1,5 mililít tiền chất ở thể lỏng. Sau khi quy đổi, số lượng tiền chất thuộc khoản nào, thì người thực hiện hành vi phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản đó.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/07/2021

Bài viết trình bày về thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong những trường hợp nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/07/2021

Bài viết trình bày về quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật.

Huỷ bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn được quy định như thế nào trong pháp luật hiện hành

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/07/2021

Bài viết trình bày các quy định về việc huỷ bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn

Các biện pháp cưỡng chế được hiểu như thế nào trong BLTTHS 2015?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/07/2021

Bài viết trình bày về các biện pháp cưỡng chế được quy định trong BLTTHS năm 2015

Áp giải, dẫn giải được quy định như thế nào trong BLTTHS 2015?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/07/2021

Bài viết trình bày các quy định của pháp luật hiện hành về việc áp giải, dẫn giải theo quy định của pháp luật hiện hành

Tội chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hiện hành là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 26/07/2021

Tội chiếm đoạt chất ma túy quy định tại Điều 252 BLHS

Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật hiện hành là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 26/07/2021

Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy quy định tại Điều 253 BLHS

So sánh tội chiếm đoạt chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy?

Hỏi đáp luật Hình Sự 26/07/2021

BLHS năm 1999 quy định các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt,... chất ma túy thuộc cùng một tội nhưng BLHS năm 2015 lại tách thành những tội khác nhau.