So sánh tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy?

Cả hai tội phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy đều tác động đến chất ma túy – mặt hàng bị pháp luật cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển,... Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán,... chất ma túy thuộc cùng một tội nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 lại tách thành những tội khác nhau. Vậy hai tội phạm kể trên khác nhau như thế nào?

Nội dung

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Tội sản mua bán trái phép chất ma túy

Căn cứ pháp lý

Điều 249 Bộ luật Hình sự

Điều 251 Bộ luật Hình sự

Khách thể

Khách thể của tội phạm là chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Việc bảo quản, vận chuyển, mua bán chất ma tuý dùng vào việc chữa bệnh hoặc mục đích xã hội phải được Nhà nước cho phép. Hiện nay, việc bảo sản một số chất ma tuý để sản xuất sản phẩm chủ yếu trong lĩnh vực y tế nhằm mục đích chữa bệnh dưới dạng thuốc tân dược và được quy định rất chặt chẽ từ khâu sản xuất đến khâu quản lý, bán và sử dụng.

Mặt khách quan

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tàng trữ trái phép chất ma tuý là cất giữ bất hợp pháp chất ma tuý ở bất cứ nơi nào như: trong nhà ở; phòng làm việc; trụ sở cơ quan, tổ chức; phương tiện giao thông; trong túi quần áo, túi xách... mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma tuý khác hoặc vận chuyển từ này đến nơi khác. Nhiều trường hợp người phạm tội cất giấu ma tuý trên phương tiện giao thông nhưng lại không có mục đích vận chuyển từ nơi này đến nơi khác, mặc dù trên thực tế phương tiện giao thông đó di chuyển từ nơi này đến nơi khác thì người phạm tội vẫn chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý  mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển trái phép chất ma tuý.

Thời gian cất giữ dài hay ngắn không có ý nghĩa xác định người phạm tội có tàng trữ trái phép chất ma tuý hay không.

Nếu tàng trữ trái phép chất ma tuý cho người mà khác biết rõ người này mua bán trái phép chất ma tuý đó thì hành vi cất giữ ma tuý không phải là hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà là hành vi giúp sức người mua bán trái phép chất ma tuý và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý với vai trò đồng phạm.

Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Bị coi là "đã bị xử phạt hành chính", nếu trước đó đã bị xử lý vi phạm hành chính về một trong những hành tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý mà lại thực hiện tiếp hành vi tàng trữ ma túy:

Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm là trường hợp người phạm tội trước đây đã bị kết án về tội phạm ma túy tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự, chưa hết thời hạn xóa án tích mà đã tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ ma túy.

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là bán hay mua để bán lại; vận chuyển ma tuý để bán cho người khác; tàng trữ để bán lại hoặc để sản xuất ra chất ma tuý khác để bán lại trái phép; hoặc dùng ma tuý để đổi lấy hàng hoá hay dùng hàng hoá để đổi lấy ma tuý.

Bán trái phép chất ma tuý cho người khác là dùng ma tuý mà mình có dưới bất kỳ hình thức nào như: mua được, xin được, nhặt được, người khác gửi hoặc chiếm đoạt được để bán cho người khác lấy tiền hoặc lấy tài sản.

Mua chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác là dùng tiền hoặc tài sản để đổi lấy chất ma tuý và dùng chất ma tuý đó bán cho người khác lấy tiền hoặc tài sản. Khi xác định hành vi mua chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác cần chú ý: Chỉ khi nào xác định rõ mục đích của người phạm tội mua chất ma tuý đó là nhằm bán lại thì mới truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Việc xác định này, là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, căn cứ vào các tình tiết của vụ án.

Tuy nhiên, việc xác định mục đích của người mua trái phép chất ma tuý có nhằm bán trái phép cho người khác hay không, chỉ phức tạp trong một số trường hợp chất ma tuý có trọng lượng ít và người phạm tội thường khai rằng mua để sử dụng, còn đối với những trường hợp người phạm tội mua một lượng ma tuý lớn thì cho dù người phạm tội có nại ra rằng, mua để dùng thì việc xác định mục đích bán ma tuý đối với người phạm tội đơn giản hơn; không ai mua hàng kilôgam thuốc phiện hay 100 gam Hêrôin để sử dụng dần. Xin chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác là bằng lời nói hoặc hành động để người khác cho mình chất ma tuý rồi dùng chất ma tuý đó đem bán cho người khác lấy tiền hoặc tài sản. Việc xin chất ma tuý nhằm bán lại cho người khác trong thực tế rất ít xảy ra, nhưng trong một số trường hợp vẫn có thể xảy ra. Nếu xin được ma tuý mà bán ngay cho người khác thì hành vi của người phạm tội là hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, nhưng nếu xin được chất ma tuý rồi đem cất giữ sau đó mới bán cho người khác thì phải định tội là tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý.

Tàng trữ chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác là hành vi cất giữ trái phép chất ma tuý sau đó đem bán chất ma tuý đó cho người khác. Hành vi tàng trữ chất ma tuý hoàn toàn giống như hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý đã quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự, chỉ khác ở chỗ nếu chỉ tàng trữ mà không đem bán hoặc không chứng minh được mục đích nhằm bán trái phép chất ma tuý đó thì người phạm tội chỉ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý còn nếu đem bán chất ma tuý đó hoặc chứng minh được người phạm tội có mục đích nhằm bán trái phép chất ma tuý đó thì phạm tội tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý.

Vận chuyển chất ma tuý để bán trái phép cho người khác cũng giống như hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý như đã quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự, chỉ khác hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý ở chỗ người phạm tội không chỉ vận chuyển mà còn bán chất ma tuý mà mình vận chuyển cho người khác. Việc chứng minh người phạm tội có mục đích bán chất ma tuý mà mình vận chuyển cho người khác hay không trách nhiệm thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Nếu không chứng minh được người phạm tội có mục đích bán chất ma tuý mà họ vận chuyển cho người khác thì chỉ định tội là “vận chuyển trái phép chất ma tuý”, còn nếu chứng minh được người phạm tội có mục đích bán chất ma tuý mà họ vận chuyển trái phép thì định tội là “vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý”.

Cũng coi là hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nếu dùng chất ma tuý để trao đổi, để thanh toán trái phép hoặc dùng tài sản (không phải là tiền) đem trao đổi, thanh toán lấy chất ma tuý để bán lại trái phép cho người khác.

Chất ma tuý mà người phạm tội có để bán cho người khác không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma tuý do đâu mà có; không phụ thuộc vào chất ma tuý đó là thật hay giả, có hàm lượng cao hay thấp.

Việc xác minh người phạm tội có mục đích bán chất ma tuý cho người khác hay không, là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Trong trường hợp không chứng minh được mục đích bán trái phép chất ma tuý của họ, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà định tội là "tàng trữ trái phép chất ma tuý" hay tội "vận chuyển trái phép chất ma tuý" hoặc “tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Hậu quả của tội phạm là những thiệt hại phi vật chất, chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý. Hậu quả không phải dấu hiệu định tội bắt buộc của tội phạm. Tội phạm hoàn thành khi có hành vi mua trái phép ma túy xảy ra.

Chủ thể

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất trái phép chất ma túy là từ đủ 16 tuổi trở lên đối với tội phạm theo Khoản 1 Điều luật và từ đủ 14 tuổi trở lên đối với tội phạm theo Khoản 2,3,4, Điều luật này.

Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện hành vi tàng trữ  trái phép chất ma túy là do cố ý, chỉ có thể là lỗi cố ý trực tiếp. Tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố tình vi phạm.

Mục đích của tội tàng trữ trái phép chất ma túy có thể là để người phạm tội sử dụng ma túy hoặc mục đích khác và không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.

Người phạm tội thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy là do cố ý, chỉ có thể là lỗi cố ý trực tiếp. Tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố tình vi phạm.

Hình phạt

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định 05 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

o) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định 05 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi;

g) Qua biên giới;

h) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

k) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

l) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

m) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

n) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

o) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;

q) Tái phạm nguy hiểm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi;

g) Qua biên giới;

h) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

k) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

l) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

m) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

n) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

o) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;

q) Tái phạm nguy hiểm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi;

g) Qua biên giới;

h) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

k) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

l) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

m) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

n) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

o) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;

q) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết này sẽ làm rõ khái niệm ma túy và phân loại các chất ma túy.

So sánh tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội sản xuất trái phép chất ma túy?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Ttội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội sản xuất trái phép chất ma túy

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo pháp luật hiện hành là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/07/2021

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 BLHS

Một số loại ma tuý thường gặp là những loại nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định có 559 loại chất ma túy tuy nhiên chỉ có một số loại ma túy ta thường gặp.

Tại sao pháp luật lại nghiêm cấm các chất ma túy được sử dụng trong cộng đồng?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết này lý giải tại sao pháp luật VN hiện hành lại nghiêm cấm các loại ma túy thông qua phân tích tác hại của nó.

Tội sản xuất trái phép chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Tội sản xuất trái phép chất ma túy quy định tại Điều 248 BLHS.

Tội trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Tội trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy quy định tại Điều 247 BLHS

So sánh tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội vận chuyển trái phép chất ma túy?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại BLHS 2015 được tách thành 2 tội. Đây là điểm khác so với quy định tại BLHS 1999