So sánh Tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện?

Hai tội phạm Tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện đều thuộc nhóm tội vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Người phạm tội này đều có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, hậu quả của tội phạm đều xâm phạm đến chế định hôm nhân của con người. Vậy hai tội này có điểm gì khác biệt?

Nội dung

Tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện

Căn cứ pháp lý

Điều 182 Bộ luật Hình sự

Điều 181 Bộ luật Hình sự

Khách thể

khách thể của tội phạm là quyền kết hôn, ly hôn – quyền tự do cơ bản của công dân, chế độ hôn nhân và gia đình, chế định hôn nhân và gia đình, cũng như những quy phạm pháp luật điều chỉnh về chế độ hôn nhân và gia đình của con người.

Mặt khách quan

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác của người đã có vợ, có chồng hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ của người chưa có vợ, có chồng.

Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.

Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn ( kể cả hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận) và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Kết hôn với người khác trái pháp luật là hành vi lừa dối các cơ quan Nhà nước để đăng ký kết hôn hoặc tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán; người phạm tội có thể lừa dối đối với người mà mình kết hôn như: nói dối là mình chưa có vợ, chưa có chồng hoặc tuy đã có vợ hoặc có chồng nhưng đã ly hôn hoặc đã chết làm cho người mà mình định kết hôn tin mà đồng ý kết hôn. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp cả hai người ( nam và nữ) đều biết nhau đã có vợ hoặc có chồng nhưng vẫn cố tình lừa dối các cơ quan Nhà nước để được kết hôn trái pháp luật.

Nếu một trong hai người (nam hoặc nữ) bị lừa dối mà đồng ý kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có hành vi gian dối thì chỉ người có thủ đoạn gian dối mới bị coi là vi phạm chế độ một vợ, một chồng, còn người bị lừa dối không phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Hành vi sống chung như vợ chồng với người khác là hành vi của nam và nữ không có đăng ký kết hôn nhưng về sống chung với nhau như vợ chồng, có thể có tổ chức lễ cưới hoặc không tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán; gia đình có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; họ sống với nhau như vợ chồng một cách công khai, mọi người xung quanh đều biết và cho rằng họ là vợ chồng.

Hầu hết các trường hợp chung sống như vợ chồng hiện nay đều trái luật ngoại trừ 03 trường hợp chung sống như vợ chồng được pháp luật công nhận quy định tại Thông tư Liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP do Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 06 tháng 01 năm 2016:

Người đang có vợ hoặc có chồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết.

Sẽ không phải là sống chung với nhau như vợ chồng nếu như nam và nữ lén lút quan hệ tình dục với nhau theo quan niệm mà xã hội cho là “ngoại tình”.

Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ.

Đây là trường hợp người chưa có vợ, chưa có chồng biết rõ người khác đã có chồng, đã có vợ nhưng vẫn chung sống như vợ chồng với người này.

Người chưa có vợ hoặc chưa có chồng là người chưa kết hôn lần nào hoặc đã kết hôn nhưng đã ly hôn hoặc một trong hai người (vợ hoặc chồng) đã chết hoặc được Toà án tuyên bố là đã chết. Điều luật quy định người chưa có vơ, chưa có chồng, nhưng bao gồm cả những người đã có vợ boặc đã có chồng nhưng vợ hoặc chồng đã chết, đã ly hôn hoặc đã bị Toà án huỷ hôn nhân trái pháp luật.

Khi chung sống như vợ chồng với người đã có chồng hoặc có vợ, người phạm tội phải biết rõ người mà mình kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng là người đang có chồng hoặc có vợ. Nếu không biết rõ thì không phải hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Biết rõ là biết một cách chắc chắn, không có nghi ngờ gì về người mà mình chung sống như vợ chồng đang có chồng hoạc đang có vợ, có thể do chính người đang có chồng hoặc có vợ nói cho biết hoặc thông qua người khác nói cho biết, hoặc tự tìm hiểu qua nhiều nguồn nên biết.

Ngoài các hành vi mô tả trên, người phạm tội chỉ bị xử lý hình sự nếu thuộc một trong hai trường hợp sau:

- Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn.

Trong trường hợp này, việc người đã có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác đã làm rạn nứt mối quan hệ giữa hai vợ chồng trong quan hệ hôn nhân thực tế của người đã có vợ, có chồng. Vợ hoặc chồng của người phạm tội cảm thấy uất ức, không thể tiếp tục thười kì hôn nhân hoặc bị chính người phạm tội ép buộc ly hôn.

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Đây là trường hợp người phạm tội đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính và theo Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực...hôn nhân và gia đình... mà sau đó còn tiếp tục vi phạm.

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm gồm cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ; cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ.

Cản trở kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.

Cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyên, tiến bộ là tìm mọi cách chấm dứt quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ đang tồn tại. Nếu ở hai hành vi trên, người phạm tội tìm mọi cách ngăn cấm kết hôn, ly hôn, thì ở hành vi này người phạm tội lại tìm cách phá vỡ quan hệ hôn nhân đang tồn tại, hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện tiến bộ có thể dẫn đến quan hệ hôn nhân tan vỡ, nhưng cũng có thể quan hệ hôn nhân đó không bị tan vỡ nhưng cũng làm cho cuộc sống chung vợ chồng xáo trộn.

Những hành vi trên được thực hiện bằng 05 cách thức cụ thể gồm: hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.

Hành hạ là hành vi của một người đối xử tàn ác với người khác (thông thường là đối với người lệ thuộc mình) một cách có hệ thống (lặp đi lặp lại nhiều lần) gây đau đớn về thể xác và tinh thần cho người bị hành hạ.

Người bị hành hạ chủ yếu là người có quan hệ lệ thuộc với người phạm tội. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp giữa người phạm tội với người bị hành hạ không có mối quan hệ lệ thuộc. Mối quan hệ lệ thuộc giữa người phạm tội với người bị hành hạ là lệ thuộc về vật chất, về tinh thần. Mối quan hệ này, bắt nguồn quan hệ hôn nhân (vợ chồng), quan hệ huyết thống (cha mẹ với các con, ông bà với các cháu), quan hệ nuôi dưỡng (cha mẹ nuôi với con nuôi, người đỡ đầu với người được đỡ đầu), quan hệ công tác ( thủ trưởng với nhân viên ), quan hệ thầy trò, quan hệ tôn giáo, quan hệ giữa người làm công với chủ, nhất là đối với một số nhà hàng khách sạn tư nhân... Tuy nhiên, người bị hành hạ trong tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ chủ yếu bắt nguồn từ quan hệ huyết thống.

Ngược đãi là hành vi đối xử một cách tàn nhẫn, trái với lẽ phải, với đạo đức giữa bố mẹ đối với con cái, giữa ông bà đối với các cháu với, giữa vợ chồng với nhau v.v... Tuy nhiên, người bị ngược đãi trong tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ chủ yếu là do hành vi đối xử một cách tàn nhẫn của bố mẹ đối với con cái, ông bà đối với các cháu.

Uy hiếp tinh thần tức là đe doạ sẽ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tài sản hoặc đến một lợi ích quan trọng thân thiết làm cho người bị doạ nạt đó có căn cứ lo sợ thực sự mà chịu khuất phục. Ví dụ: đe doạ sẽ giết người, sẽ đốt nhà, sẽ rút phép thông công đối với người theo đạo Thiên chúa,...

Yêu sách của cải tức là thách cưới, thực chất là mua, bán cô dâu, là thủ đoạn của tội cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ nếu là cố ý thách cưới nhằm cho bên nhà trai không thể lo liệu được để lấy cớ không cho cưới mặc dù đôi bên trai, gái đã tự nguyện lấy nhau.

Hoặc bằng thủ đoạn khác tức là bằng những thủ đoạn có tính chất bạo lực khác như đánh người gây thương tích, hoặc những tập tục cũ đôi khi xảy ra ở vùng dân tộc ít người là bắt cóc phụ nữ làm vợ, v.v... Trong trường hợp một bên đã dùng thủ đoạn gian xảo để lừa dối bên kia một cách nghiêm trọng như che giấu hoặc sửa chữa lý lịch chính trị hoặc lý lịch tư pháp đặc biệt xấu của mình làm cho bên bị mắc lừa đồng ý kết hôn, đây cũng là thủ đoạn của hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.

Đã bị xử phạt hành chính vè hành vi này mà còn vi phạm là trước đó đã có lần có hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc đã có lần cản trở kết hôn, ly hôn, cản trở duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, đã bị xử phạt hành chính bằng một trong những hình thức xử phạt hành chính hoặc bằng một trong những hình thức xử lý hành chính khác theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính, nay lại có hành vi vi phạm cưỡng ép kết hôn hoặc đã có lần cản trở kết hôn, cản trở duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý hành chính, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc đã có lần cản trở kết hôn, cản trở duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ thì cũng không cấu thành tội phạm này.

Hậu quả của hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là những thiệt hại về vật chất, tinh thần mà người phạm tội gây ra cho người khác và cho xã hội.

Hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ có thể gây ra một trong những thiệt hại sau:

- Làm cho việc kết hôn hoặc ly hôn trái với sự tự nguyện của một bên hoặc cả hai bên nam và nữ;

- Làm cho việc kết hôn hoặc ly hôn tự nguyên tiến bộ không thực hiện được;

- Làm cho quan hệ hôn nhân tự nguyện tiến bộ không được duy trì, bị tan vỡ;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích;

- Gây ra dư luận xấu trong xã hội ảnh hưởng xấu đến chính sách của Đảng và Nhà nước về các quyền của công dân, nhất là đối với chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.

Mặc dù hậu quả có xảy ra hay không cũng không có ý nghĩa trong việc xác định hành vi phạm tội mà chỉ có ý nghĩa trong việc xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để quyết định hình phạt. Hậu quả của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. Tuy nhiên, nếu hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả thì người phạm tội sẽ phải chịu một hình phạt nặng hơn trường hợp chưa gây ra hậu quả.

Chủ thể

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đủ nằng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt chủ quan

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hậu quả của hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi, mong muốn hậu quả vi phạm chế độ một vợ một chồng xảy ra.

Người phạm tội thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ thực hiện hành vi của mình do lỗi cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là cưỡng ép hoặc cản trở người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, thấy trước được hậu quả và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra. Đối với tội cưỡng ép hoặc cản trở hôn nhân tự nguyên, tiến bộ người phạm tội bao giờ cũng mong muốn cho hậu quả xảy ra. Mục đích là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.  

Hình phạt

Điều 182 Bộ luật Hình sự quy định 02 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm đối với người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

- Khung hình phạt phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Điều 181 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm đối với người cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội trộm cắp tài sản là gì

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/07/2021

Tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự

Tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/07/2021

Tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng quy định tại Điều 182 BLHS

Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm như thế nào trong quá trình tố tụng?

Hỏi đáp luật Hình Sự 18/07/2021

Bài viết trình bày về nguyên tắc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm thực hiện theo quy định của BLTTHS 2015.

Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 18/07/2021

Bài viết trình bày về nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của BLTTHS 2015.