Thế nào là không tố giác tội phạm?

Trong công cuộc đấu tranh chống tội phạm, việc phát hiện tội phạm càng sớm, càng giảm thiểu hậu quả mà tội phạm đem lại cho xã hội. Tuy nhiên, có không ít người mang tâm lý sợ hãi bị trả thù, tâm lý bàng quan trước mọi việc của xã hội, dẫn đến tình trạng biết tội phạm xảy ra nhưng không tố giác. Do đó pháp luật đã đưa ra quy định liên quan đến vấn đề “không tố giác tội phạm” trong Bộ luật hình sự hiện hành. Trong nội dung bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ giải đáp các quy định của Bộ luật hình sự về “không tố giác tội phạm” để bạn đọc có cái nhìn khái quát về vấn đề này.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 19 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định không tố giác tội phạm như sau:

Điều 19. Không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.”.

2. Khái niệm không tố giác tội phạm

Không tố giác tội phạm là biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không trình báo với cơ quan chức năng có thẩm quyền để kịp thời ngăn chặn hoặc kịp thời điều tra phát hiện tội phạm, gây khó khăn cho việc điều tra, xử lý người phạm tội. Hành vi không tố giác tội phạm luôn ở hình thức không hành động, trái ngược với hành vi che dấu tội phạm.

3. Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi không tố giác tội phạm

Điều 19 Bộ luật hình sự quy định 03 đối tượng “không tố giác tội phạm” tại 03 Khoản như sau:

Thứ nhất, Khoản 1 Điều 19 quy định đối tượng chung, đối với mọi người:

” Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này”.

Theo đó, không phải hành vi không tố giác nào cũng phải chịu trách nhiệm hình sự, chỉ những hành vi không tố giác tội phạm thuộc Điều 390 Bộ luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều 390 quy định như sau:

Điều 390. Tội không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”

Theo đó, chỉ những người không tố giác tội phạm chuẩn bị phạm tội (theo Khoản 2,3 Điều 14) hoặc tội quy định trong Điều 389 Tội che dấu tội phạm mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm. Đây là những tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, nếu không tố giác sẽ mang lại hậu quả nghiêm trọng. Khung hình phạt với với tội này là phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Thứ hai, Khoản 2 Điều 19 quy định trường hợp người thân thích không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “không tố giác tội phạm”. Bao gồm ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội.

Quy điịnh này tương đồng với quy định tại Khoản 2 Điều 18 (người thân thích không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi che dấu tội phạm). Xuất phát từ, truyền thống đùm bọc, một nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam, tuy nhiên không phải mọi trường hợp đều có thể miễn trách nhiệm hình sự đối với hành vi không tố giác của người thân thích. Bởi các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu không xử lý kịp thời sẽ đem đến hậu quả lớn hơn nữa. Do đó, trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII (Các tội xâm phạm anh ninh quốc gia) của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, dù là người thân thích vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 390 Bộ luật này.

Thứ ba, Khoản 3 Điều 19 quy định vấn đề miễn trách nhiệm hình sự với hành vi không tố giác tội phạm của người bào chữa (hay gọi là luật sư). Theo luật định, luật sư  không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Xoay quanh vấn đề này, trong phiên họp đặc biệt của Quốc hội diễn ra sáng ngày 27/5/2017 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, các đại biểu quốc hội đã có những ý kiến trái chiều. Đại biểu Quốc hội – Luật sư Đỗ Ngọc Thịnh cho rằng:

“Điều tra tội phạm là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan điều tra, luật sư với trách nhiệm người bào chữa và trách nhiệm công dân, luật sư phải ứng xử thế nào? Nếu luật sư tố giác tội phạm thì chính thân chủ đó có mời luật sư nữa không? Xã hội có tẩy chay nghề luật sư không? Chưa bảo vệ được gì đã đi tố giác rồi thì không biết nghề luật sư có điều kiện tồn tại hay không? Tôi khẳng định niềm tin của khách hàng và xã hội vào nghề luật sư sẽ mất dần và sẽ bị thui chột”. 

Trái ngược với quan điểm trên Đại biểu Nguyễn Thái Học cho rằng:

 “Quan điểm của tôi rất ủng hộ khoản 3 điều 19, quy định như thế là luật đã ghi nhận vai trò, trách nhiệm của luật sư, cũng ghi nhận mối quan hệ đặc biệt giữa luật sư với thân chủ. Bố mẹ, anh chị em vợ chồng có nghĩa vụ tố giác tội phạm là những người thân thích của mình, thì bản thân luật sư với mối quan hệ đặc biệt với thân chủ thì cũng có trách nhiệm trong việc tố giác tội phạm, nhưng luật ở đây chỉ giới hạn tố giác tội phạm an ninh quốc gia, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Như thế là phù hợp, chứ không phải ràng buộc luật sư tố giác mọi tội phạm”.[1]

Luật Hoàng Anh

 

 

 

 


[1] https://kienthuc.net.vn/xa-hoi/phien-hop-dac-biet-quoc-hoi-van-nong-chuyen-luat-su-to-giac-than-chu-876969.html, truy cập ngày 20/06/2021.

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Sự kiện bất ngờ là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Sự kiện bất ngờ được quy định tại Điều 20 BLHS

Thế nào là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội quy định tại Điều 16 BLHS

Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 21 BLHS

Việc gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Việc gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội được quy định tại Điều 24 BLHS