Thế nào là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội?

Khi quyết định thực hiện tội phạm, người phạm tội cần suy nghĩ rất kĩ từ việc chuẩn bị công cụ, thời gian, địa điểm cho đến các yếu tố khác. Tuy nhiên có nhiều trường hợp người phạm tội tự ý chấm dứt việc phạm tội khi chưa hoàn thành tội phạm. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề này.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 16 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội  như sau:

Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.”

2. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Nếu quy định về phạm tội chưa đạt, tội phạm không được thực hiện đến cùng do nguyên nhân khách quan thì tự ý chấm dứt việc phạm tội do ý chí của người phạm tội quyết định không thực hiện đến cùng tội phạm.

Điều 16 Bộ luật hình sự 2015 quy định khái niệm “tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Dấu hiệu của trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội bao gồm 02 dấu hiệu: về thời điểm có thể xảy ra và tính chất của việc không thực hiện tiếp hành vi phạm tội.

Thứ nhất, việc không thực hiện tiếp tội phạm chỉ có thể xảy ra khi còn là chuẩn bị phạm tội hoặc là phạm tội chưa đạt và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành.  Tức là tội phạm chưa diễn ra, chưa diễn ra hoàn toàn hoặc chưa để lại hậu quả của tội phạm mà người phạm tội đã dừng việc thực hiện hành vi phạm tội lại.

Thứ hai, về tính chất của việc không thực hiện tiếp hành vi phạm tội, đó là “tự mình” và “không có ai ngăn cản”. Có thể hiểu đó là sự tự nguyện xuất phát từ ý chí của người phạm tội chứ không phải do nguyên nhân bên ngoài tác động vào. Ngoài ra, việc chấm dứt việc phạm tội phải là dừng hẳn, từ bỏ hẳn ý định phạm tội chứ không phải chỉ tạm dừng việc thực hiện tội phạm lại.

Điều 16 Bộ luật hình sự 2015 cũng quy định về trách nhiệm hình sự trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội: “Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này”.

Việc quy định này đồng thời cũng là động lực thúc đẩy người thực hiện tội phạm tự chấm dứt hành vi phạm tội để được hưởng sự khoan hồng.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Bộ luật hình sự 2015 quy định như thế nào về tuổi chịu trách nhiệm hình sự?

Hỏi đáp luật Hình Sự 29/06/2021

Bộ luật hình sự 2015 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình tại Điều 12

Phòng vệ chính đáng là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Quy định phòng vệ chính đáng được ghi nhận tại Điều 22 BLHS

Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ được quy định tại Điều 25 BLHS

Sự kiện bất ngờ là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/06/2021

Sự kiện bất ngờ được quy định tại Điều 20 BLHS