Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là gì?

Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy tại Điều 256, cụ thể như sau:

“Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với người dưới 16 tuổi;

d) Đối với 02 người trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Các yếu tố cấu thành tội phạm nói chung bao gồm 4 yếu tố: Khách thể của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm. Đối với tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy cũng có 4 yếu tố cấu thành tội phạm. Cụ thể như sau:

1. Khách thể của tội phạm

Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi của người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý biết người khác là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cho họ mượn hoặc thuê địa điểm đó để họ trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy [1].

Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của con người và gây ra tệ nạn ma túy.

2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm được quy định là hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Biểu hiện thực tế của hành vi có thể là hành động như: cho mượn, cho thuê địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lí để người khác trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy hoặc có thể là việc không hành động, không ngăn cản người khác sử dụng chỗ ở, chỗ làm việc của mình làm chỗ tiêm chích, hút, hít chất ma túy…

*Lưu ý:

- Hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy khác với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là trường hợp người phạm tội đứng ra tổ chức, dẫn dắt người nghiện ma túy; còn hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là người phạm tội tiếp tay, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng trái phép chất ma túy của người nghiện ma túy.

- Người có địa điểm cho người khác mượn hoặc cho thuê địa điểm mà biết họ dùng địa điểm đó để tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 BLHS năm 2015.

3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự và đã thực hiện hành vi được mô tả trong Điều 256.

4. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý có lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện, người phạm tội nhận thức rõ hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó, nhưng vẫn mong muốn thực hiện nó.

5. Hình phạt

Điều 256 BLHS năm 2015 quy định hai khung hình phạt chính (khoản 1, khoản 2) và một khung hình phạt bổ sung (khoản 3) đối với tôi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

- Khoản 1: Quy định khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm đối với các trường hợp phạm tội cấu thành cơ bản, không có tình tiết tăng nặng.

- Khoản 2: Quy định hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với các trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng sau:

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: là trường hợp người phạm tội đã dựa vào chức vụ, quyền hạn mà mình được đảm nhiệm tại cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có liên quan trực tiếp đến việc quản lý, sử dụng nơi ở, địa điểm hoặc những điều kiện khác lợi dụng để chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Phạm tội 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy tố, xét xử trong các lần phạm tội.

+ Đối với người dưới 16 tuổi: cần căn cứ vào giấy khai sinh để xác định tuổi của người chưa thành niên.

+ Đối với 02 người trở lên được hiểu là trong một lần thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội đối với từ 02 người trở lên.

+ Tái phạm nguy hiểm là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội mua bán trái phép chất ma túy hoặc trường hợp người phạm tội đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện phạm tội này. (Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 về tái phạm, tái phạm nguy hiểm)

- Khoản 3: quy định về hình phạt bổ sung có thể bị áp dụng đối với người phạm tội là phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

*Lưu ý:

- Nếu người có địa điểm không biết người đến thuê, mượn địa điểm dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý thì người cho thuê, cho mượn địa điểm không phạm tội.

- Nếu hành vi của người nào đó ngoài việc cho thuê, cho mượn địa điểm còn dẫn dắt con nghiện, cung cấp phương tiện sử dụng chất ma tuý, v.v... thì không phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý mà phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

[1] Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 tại Phần II, Mục 7.1

Luật Hoàng Anh

 

 


 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội phạm ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 15/06/2021

Tội phạm ma túy là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của con người