Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội là gì?

Gây thiệt hại trong thường hợp phòng vệ chính đáng hoặc khi bắt giữ người phạm tội là những trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên việc gây thiệt hại chỉ ở mức cần thiết mới được loại trừ trách nhiệm. Nhiều trường hợp người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng hoặc bắt giữ người phạm tội lại gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác quá mức cần thiết. Động cơ phạm tội của người phạm tội xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích của bạn thân, Nhà nước nên không thể đánh đồng tội phạm này với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Do đó, pháp luật hình sự đã đặt ra quy định riêng xử lý nội dung này.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 136 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự) quy định Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh như sau:

Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

3. Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.”

2. Dấu hiệu pháp lý tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội gồm 02 tội là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá mức cần thiết khi bắt người phạm tội.

Phòng vệ chính đáng và gây thiệt hại trong khi trong khi bắt giữ người phạm tội là 02 trong 07 trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 22 và Điều 24 Bộ luật hình sự. Có nghĩa là con người có quyền phòng vệ chính đáng và bắt giữ người phạm tội. Tuy nhiên quyền này được giới hạn ở “mức cần thiết”.

Điều 22 Bộ luật Hình sự quy định “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Theo đó, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là trường hợp người phòng vệ chính đáng thực hiện hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết gây ra hậu quả tổn hại sức khỏe người khác từ 31% trở lên. Tội phạm này xâm hại trực tiếp đến sức khỏe con người.

Điều 24 Bộ luật Hình sự quy định “gây thiệt hại quá mức cần thiết trong khi bắt giữ người phạm tội” là trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự. Từ đó, ta hiểu cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội là trường hợp người có quyền, nghĩa vụ bắt người phạm tội đã sử dụng vũ lực quá mức cần thiết gây hậu quả tổn hại sức khỏe người khác từ 31% trở lên. Tội phạm này cùng xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe nạn nhân.

Cả hai tội phạm được nêu trong Điều 136 Bộ luật Hình sự đều xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe con người. Nói cách khác, cả hai tội phạm đều có khách thể là quyền bất khả xâm phạm thân thể, sức khỏe và quyền phòng vệ chính đáng, quyền bắt giữ người phạm tội của con người.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Cả 02 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá mức cần thiết khi bắt người phạm tội đều có chung hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tuy nhiên ngay trước khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, người phạm tội đã thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng và sử dụng vũ lực để bắt giữ người phạm tội.

Căn cứ vào Điều 22 Bộ luật hình sự quy định về chế định phòng vệ chính đáng: “Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.”

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải thỏa mãn 04 điều kiện sau đây:

- Hành vi của nạn nhân là hành vi phạm tội hoặc là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại đến quyền hoặc lợi ích chính đáng của cá nhân, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức;

- Hành vi xâm hại của nạn nhân phải đang diễn ra, đã bắt đầu nhưng chưa kết thúc.

- Hậu quả xảy ra là nạn nhân bị thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người.

- Hành vi phòng vệ của người phạm tội không tương xứng với hành vi xâm hại của nạn nhân, tức là quá mức cần thiết gây ra tổn hại từ 31% trở lên cho sức khỏe hoặc gây chết nạn nhân. Sự tương xứng ở đây dựa vào tính chất, mức độ hành vi của người xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội, Nhà nước, tổ chức. Trường hợp nếu hành vi mà nạn nhân gây ra cũng gây tổn hại đến sức khỏe của người phạm tội cao hơn hành vi mà người phạm tội gây ra  và cao hơn mức 31% thì hành vi phạm tội của người phạm tội được coi là tương xứng với hành vi nguy hiểm mà nạn nhân thực hiện. Do đó trường hợp này vẫn được coi là phòng vệ chính đáng.

Điều 24 Bộ luật hình sự quy định về gây thiệt hại khi bắt người: “Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.”

Người thực hiện bắt giữ nếu là chiến sĩ công an nhân dân thì theo Khoản 15 Điều 16 Luật Công an nhân dân số 37/2018/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2018 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chiến sĩ công an nhân dân: “Sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, vũ lực, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện khác để tấn công, truy bắt tội phạm, ngăn chặn người đang thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm pháp luật khác và để phòng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật.”

Trường hợp người dân thực hiện việc bắt người quả tang hay bắt người đang bị truy nã theo Điều 111 và Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, người bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt bằng cách sử dụng vũ lực.

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá mức cần thiết khi bắt người phạm tội cũng phải thỏa mãn 04 điều kiện giống với tội phạm thực hiện do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng bao gồm:

- Hành vi của nạn nhân là hành vi phạm tội hoặc là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm, đáng lẽ phải bị bắt giữ nhưng nạn nhân đã chống đối, buộc người bắt giữ phải sử dụng vũ lực để bắt giữ.

- Hành vi chống đối của nạn nhân phải đang diễn ra, đã bắt đầu nhưng chưa kết thúc.

- Hậu quả xảy ra là nạn nhân bị thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người.

- Hành vi dùng vũ lực để bắt giữ người phạm tội không tương xứng với hành vi chống đối của họ, tức là quá mức cần thiết gây ra tổn hại từ 31% trở lên cho sức khỏe hoặc gây chết nạn nhân. Sự tương xứng ở đây dựa vào tính chất, mức độ hành vi chống đối của người phạm tội.

Hậu quả gây tổn hại cho sức khỏe nạn nhân từ 31% trở lên hoặc gây hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc. Giữa hậu quả đó và hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc hành vi vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội có mối quan hệ nhân quả. Sự thương tổn của nạn nhân phải xuất phát từ nguyên nhân là hành vi phòng vệ chính đáng hoặc hành vi bắt giữ người phạm tội. Ví dụ, anh A vì mâu thuẫn nên đã chặn đường đánh anh B, B vì phòng vệ chính đáng nên đã đấm nhiều phát vào bụng A, sau đó anh A ngất đi, anh B đưa A vào viện cấp cứu thì A chết do lên cơn hen suyễn. Trước đó, B không hề biết A bị hen suyễn. Như vậy, trong trường hợp này A không được coi là cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Trong đó, nếu tỷ lệ tổn thương cơ thể nạn nhân từ 31% trở lên thì người sử dụng vũ lực trái phép trong khi thi hành công vụ mới bị coi là phạm tội.

Tội phạm hoàn thành khi có hậu quả tổn hại cho sức khỏe nạn nhân từ 31% trở lên hoặc gây hậu quả chết nạn nhân do hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc hành vi vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

 2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội là người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Chủ thể của tội phạm này có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch nhưng phải trong tình thế phòng vệ chính đáng hoặc bắt giữ người phạm tội. Trường hợp một tổ các chiến sĩ công an, bộ đội làm nhiệm vụ bắt giữ người và có sử dụng vũ lực vượt quá mức cần thiết thì không được coi là đồng phạm hay phạm tội có tổ chức.

Khoản 1 Điều 12 Bộ luật hình sự quy định người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội quy định trong Bộ luật này. Khoản 2 Điều 12 quy định một số tội người từ đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng không có tội phạm theo Điều 126. Do đó, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội theo điều 126 Bộ luật hình sự là người từ đủ 12 tuổi.

Người phạm tội phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Chủ thể của tội phạm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do lỗi vô ý, có thể là lỗi vô ý do quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Người phạm tội có động cơ phòng vệ chính đáng hoặc bắt giữ người phạm tội, đây hoàn toàn là động cơ tốt, bảo vệ lợi ích của bản thân, của người khác hoặc của Nhà nước, cơ quan, tổ chức. Người phạm tội hoàn toàn nhận thức được hậu quả gây tổn hại đến sức khỏe nạn nhân có thể xảy ra những vẫn tự tin rằng mình ra tay không nặng, không quá ảnh hưởng đến nạn nhân hoặc do lỗi cẩu thả, chủ quan cho rằng hậu quả kể trên sẽ không xảy ra.

3. Hình phạt đối với người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

Điều 136 Bộ luật Hình sự quy định 03 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm đối với trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội. Theo Điều 9 Bộ luật hình sự, người phạm tội bị xử phạt theo khung này thuộc loại tội ít nguy hiểm.

- Khung hình phạt phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên. Theo Điều 9 Bộ luật hình sự, người phạm tội bị xử phạt theo khung này thuộc loại tội ít nguy hiểm.

- Khung hình phạt phạt tù từ 01 năm đến 03 năm trong trường hợp phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên. Nạn nhân bị chết là do chính vết thương mà người phạm tội đã gây ra, nhưng người phạm tội hoàn toàn không mong muốn và cũng không bỏ mặc, tức là không có căn cứ để xác định thuộc trường hợp giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội quy định tại Điều 126 Bộ luật Hình sự.

4. Vụ án thực tế xét xử về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

Bán án số 13/2021/HS-PT ngày 31-3-2021 “V/v xét xử bị cáo Lò Văn A - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội” của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La[1]

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 09/4/2019, Lò Văn A là người dân bản SNT cùng với khoảng 70 người khác thuộc bản SNT dùng cuốc đi đào hố để trồng cây ở khu vực đất nương KPQ thuộc bản SNT, xã CB, huyện MS (là khu vực đất đang có tranh chấp với bản NN, xã HL, thành phố S). Đến 08 giờ 30 phút cùng ngày, Tòng Văn B (sinh năm 1979), Tòng Văn S (sinh năm 1993) và khoảng 30 người khác là người dân bản NN mang theo gậy gỗ, Tòng Văn F cầm dao đến ngăn người dân bản SNT đào hố trồng cây. Tại đây, B cầm 01 đoạn gậy gỗ dài khoảng 1,5m, đường kính khoảng 05cm đi đến chỗ A ngăn không cho A cuốc đất nhưng A vẫn tiếp tục đào nên B dùng hai tay cầm gậy đập vào phần cán cuốc của A khoảng 03 đến 04 lần, trong đó 01 lần trúng vào cổ tay trái của A. A giơ cuốc lên qua đầu và chửi B nên B cũng giơ gậy lên rồi cả hai cùng lùi lại phía sau khoảng 0,5m. Thấy B và A xảy ra xô xát thì người dân bản NN chạy đến chỗ B. Trong lúc xảy ra tranh chấp, cãi chửi nhau thì B sử dụng gậy gỗ đập về phía A, A giơ cuốc lên gạt đỡ và bổ cuốc theo chiều từ trên xuống dưới, từ trái qua phải khoảng 03 đến 04 lần. B cầm gậy đập theo hướng từ trên xuống dưới về phía người A01 lần thì bị A bổ cuốc vào gậy gỗ làm gậy gỗ hướng xuống đất. A tiếp tục bổ cuốc trúng vào mu bàn tay phải của B. B buông gậy vứt xuống đất, dùng tay trái nắm chặt vết thương ở tay phải rồi chạy xuống dưới chân nương khoảng 20m thì gặp Lò Văn R (sinh năm 1989) và Tòng Văn T (sinh năm 1989) đều trú cùng bản NN, xã HL, thành phố S đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Cuộc sống tỉnh Sơn La. Sau khi B bỏ chạy, A tiếp tục bổ cuốc nhiều nhát về phía người dân bản NN nhưng không trúng ai. Tòng Văn S cầm vào lưỡi cuốc của A để ngăn không cho A đánh nhau, trong lúc giằng co thì ngón tay ở bàn tay trái của S bị xước da chảy máu. Sau đó, Lò Văn U (sinh năm 1966) trú tại bản SNT đến can ngăn thì người dân bản SNT và A không xảy ra xô sát nữa. Tòng Văn S được đưa đến Bệnh viện đa khoa Cuộc sống để điều trị.

Kết quả xem xét dấu vết thân thể và thương tích của các đối tượng tham gia:

Đối với Tòng Văn B: 01 vết thương cắt ngang toàn bộ phần mặt ngoài bàn tay phải tới gần hoàn toàn mặt trong bàn tay phải, đã được khâu, cấp cứu. Tại bản kết luận giám định pháp y số 147/Ttg ngày 25/7/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La đối với Tòng Văn B: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 39% (Ba mươi chín phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích bàn tay phải do vật cứng có cạnh sắc gây nên.”

Đối với Tòng Văn S: Tại vị trí mặt cạnh ngoài bên phải đốt thứ nhất ngón thứ hai bàn tay trái có 01 vết sẹo, kích thước 02cm x 0,3cm. Tại bản kết luận giám định pháp y số 146 đối với Tòng Văn Sinh: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm).Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương phần mềm ngón II tay trái của Tòng Văn Sinh là do tác động trực tiếp của vật có cạnh sắc gây nên”

Đối với Lò Văn A: Không phát hiện dấu vết tổn thương.

Do có hành vi nêu trên, tại bản án số 09/2020/HSST ngày 13/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lò Văn A phạm tội “Cố ý gây thương tích cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”.Xử phạt bị cáo Lò Văn A09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn hình phạt bổ sung và biện pháp khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm mặc dù bị cáo Lò Văn A không thừa nhận hành vi dùng cuốc bổ vào tay gây thương tích cho bị hại Tòng Văn B và cho rằng bị cáo  không phạm  tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Tuy nhiên, căn cứ lời khai bị hại, lời khai của những người dân bản SNT và bản NN có  mặt tại hiện trường vụ án và chính lời khai của bị cáo Lò Văn A đã thể hiện: Do mâu thuẫn tranh chấp đất đai nên ngày 09/4/2019, người dân bản SNT và người dân bản NN đã xảy ra xô xát. Sự việc xô xát xảy ra đã dẫn đến Tòng Văn B bị thương ở mu bàn tay phải, Kết luận giám định pháp y số 147/Ttg ngày 25/7/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La đối với Tòng Văn B đã kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 39% (Ba mươi chín phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích bàn tay phải do vật cứng có cạnh sắc gây nên.”

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lò Văn A và bị hại Tòng Văn B, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HSST ngày 13/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La đối với bị cáo Lò Văn A, như sau:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn A phạm tội “Cố ý gây thương tích cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”. Xử phạt bị cáo Lò Văn A 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày Cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương UBND xã CB, huyện MS, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Miễn hình phạt bổ sung và biện pháp khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Luật Hoàng Anh


[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta678957t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 14/06/2021.

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh quy định tại Điều 135 BLHS

Tội mua bán trái phép chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 13/06/2021

Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 bao gồm bốn yếu tố khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm

Tội vận chuyển trái phép chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 13/06/2021

Tội vận chuyển trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bao gồm bốn yếu tố cơ bản cấu thành tội phạm

Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 138 BLHS