Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có điểm gì giống và khác nhau?

Cùng thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác nhưng xét về mặt lỗi của người phạm tội, tội phạm thực hiện với lỗi cố ý bao giờ cũng nặng hơn tội phạm thực hiện với lỗi vô ý. Trong nội dung bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ chỉ ra sự giống và khác việt giữa hai loại tội phạm trên.

1. Điểm giống nhau

- Khách thể của cả hai tội đều là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe của con người. Hành vi phạm tội ở đây là hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác. Tức là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe của con người đã bị xâm phạm trái phép.

- Hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Người phạm tội  phải có hành vi tác động đến thân thể của người khác làm cho người này bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ như: đâm, chém, đấm đá, đốt cháy, đầu độc v.v... Hành vi này về hình thức cũng giống hành vi của tội giết người, nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn nên nó chỉ làm cho nạn nhân bị thương hoặc bị tổn hại đến sức khoẻ chứ không làm cho nạn nhân bị chết. Nạn nhân phải bị thương tật ở mức độ theo luật định.

- Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 02/06/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần.

2. Điểm khác nhau

Nội dung

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Căn cứ pháp lý

Điều 134 Bộ luật Hình sự

Điều 138 Bộ luật Hình sự

Mức độ thương thật của nạn nhân

Nạn nhân phải bị thương tích hoặc bị tổn thương đến sức khoẻ ở mức đáng kể. Nếu thương tích không đáng kể thì chưa phải là tội phạm.

Theo Điều 134 Bộ luật hình sự, nếu người bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe có tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên thì người thực hiện những hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người đó mới bị coi là tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, nếu tỉ lệ tổn thương cơ thể bị hại dưới 11% nhưng người phạm tội thực hiện những hành vi quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội vẫn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự:

Nạn nhân phải bị thương tích hoặc bị tổn thương đến sức khoẻ ở mức tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên mới bị coi là phạm tội. Nếu mức độ thương tật từ 30% trở xuống thì không phạm tội, chỉ bị xử lý hành chính, giải quyết bồi thường dân sự.

Chủ thể của tội phạm

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện bởi bất kỳ người nào đủ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 người từ đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Như vậy, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về tội Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Khoản 4,5 Bộ luật Hình sự. Theo khoản 1 Điều 12, người từ đử 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về mọi loại tội phạm. Như vậy người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thực hiện  hành vi quy định từ Khoản 1 đến Khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện bởi bất kỳ người nào đủ 16 tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 người từ đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều của Bộ luật Hình sự nhưng không có quy định tội phạm tại Điều 138. Như vậy người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm về tội vô ý gây thương tích và gây hậu quả cho sức khỏe người phạm tội. Theo khoản 1 Điều 12, người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về mọi loại tội phạm. Như vậy người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thực hiện  hành vi vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Mặt chủ quan của tội phạm

Chủ thể thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Người phạm tội biết rõ mức độ nguy hiểm của hành vi mà mình gây ra, nhận thức rõ hành vi đó có thể gây tổn hại đến thân thể người khác và nhìn thấy trước hậu quả làm tổn thương đến thân thể, sức khỏe người bị hại. Tuy nhiên người phạm tội vẫn mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc hậu quả xảy ra.

Mặt chủ quan là yếu tố đặc biệt phân biệt giữa tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi vô ý. Theo Điều 11 Bộ luật hình sự, vô ý ở đây gồm vô ý do cẩu thả và vô ý do quá tự tin.

Vô ý do cẩu thả là trường hợp do cẩu thả mà người phạm tội không thấy trước khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước hoặc có thể thấy trước. Tiêu chuẩn để xác định một người phải thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội là căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể lúc xảy ra sự việc, một người bình thường cũng có thể thấy trước; ngoài ra còn phải căn cứ vào độ tuổi, trình độ nhận thức, trình độ văn hóa, tay nghề.v.v... Như vậy vô ý do cẩu thả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là trường hợp người phạm tội vì cẩu thả nên đã không nhìn thấy trước hậu quả thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của nạn nhân mặc dù pháp luật yêu cầu họ phải thấy trước hậu quả đó.

Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, nhưng hậu quả đó vẫn xảy ra. Từ đây, có thể hiểu vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do quá tự tin là trường hợp người phạm tội hoàn toàn thấy trước được hậu quả thương tích hay tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân nhưng do chủ quan, quá tự tin cho rằng hậu quả không xảy ra nên vẫn thực hiện hành vi đó, kết quả hậu quả đó vẫn xảy ra.

Hình phạt

Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định 06 khung hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

- Khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với người cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thực hiện các hành vi quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự

- Khung hình phạt phạt tù từ 02 năm đến 06 năm áp dụng với các trường hợp: gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%; phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm nguy hiểm; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ Điểm a đến Điểm k Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

- Khung hình phạt phạt tù từ 05 năm đến 10 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ Điểm a đến Điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ Điểm a đến Điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 14 năm đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp: làm chết người; gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ Điểm a đến Điểm k Khoản 1 Điều này; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ Điểm a đến Điểm k khoản 1 Điều này.

- Khung hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi người phạm tội thực hiện hành vi: làm chết 02 người trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

- Khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm áp dụng trong trường hợp chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Điều 138 Bộ luật hình sự quy định 03 khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

- Khung hình phạt phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm áp dụng trong trường hợp người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

- Khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm áp dụng trong trường hợp phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên. Trường hợp này người phạm tội chỉ gây thương tật hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 01 người nhưng mức độ thương tật lại rất cao (trên 61%). Do đó, hình phạt đối với họ cũng nặng hơn.

- Khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm đối với trường hợp phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

Theo Điều 9 Bộ luật hình sự, tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm. Căn cứ quy định trên, cả 03 khung hình phạt của tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đều thuộc nhóm tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội mua bán trái phép chất ma túy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 13/06/2021

Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 bao gồm bốn yếu tố khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm

Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 138 BLHS

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội quy định tại Điều 136

Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ quy định tại Điều 137 BLHS