Tội cố ý truyền HIV cho người khác là gì?

Pháp luật hình sự đã đặt ra quy định về tội lây truyền HIV cho người khác nhưng lại đặt ra thêm tội cố ý truyền HIV cho người khác. Vậy tại sao pháp luật lại đặt ra thêm một quy định như vậy? Trong bài viết này Luật Hoàng Anh sẽ làm rõ nội dung quy định tội cố ý truyền HIV cho người khác.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 149 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định Tội cố ý truyền HIV cho người khác như sau:

Điều 149. Tội cố ý truyền HIV cho người khác

1. Người nào cố ý truyền HIV cho người khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 148 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

c) Đối với người dưới 18 tuổi;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

đ) Lợi dụng nghề nghiệp;

e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

b) Đối với 06 người trở lên;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 61% trở lên;

d) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

2. Dấu hiệu nhận biết của tội cố ý truyền HIV cho người khác

2.1. Khách thể của tội phạm

Lây truyền HIV cho người khác là hành vi dùng các hình thức, thủ đoạn để làm cho người khác bị nhiễm HIV.

Tội phạm trực tiếp xâm phạm quyền bất khả xâm phạm sức khoẻ của người khác, làm lan tràn căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS.

Như vậy, khách thể của tội phạm là quyền được bảo hộ về tính mạng, sưc khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người và sự an toàn của cả cộng đồng trước bệnh tật.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Theo quy định của Luật Phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) số 64/2006/QH11 ngày 29/6/2006 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) số 71/2021/QH14 ngày 16/11/2020 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2021), HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human Immunodeficiency Virus" là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh, AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune Deficiency Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến tử vong.

Có nghĩa là HIV là một loại vi rút khi xâm nhập cơ thể con người gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch. AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể, làm cho nó không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh và dẫn đến chết người. Vì vậy, căn bệnh nhiễm HIV/AIDS là căn bệnh thế kỷ.

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi của một người không bị nhiễm HIV nhưng đã cố ý truyền HIV từ người này sang người khác.

Căn bệnh này được truyền bằng 3 con đường chính: truyền từ mẹ sang con khi mang thai; truyền bằng đường máu như truyền máu trong bệnh viện, tiêm chích ma tuý; truyền bằng đường quan hệ tình dục. Người phạm tội có các hành vi như: dùng kim tiêm chọc vào người bị nhiễm bệnh rồi chọc vào người khác; dùng dao, mảnh chai rạch tay, chân người bị nhiễm bệnh cho máu dính vào rồi rạch vào người khác; đem máu của người bị nhiễm HIV cho người khác.

Ngoài ra, người phạm tội còn có hành vi khác như dùng các thủ đoạn làm cho những bình, túi máu sạch dự trữ trong các bệnh viện trở thành máu bị nhiễm vi rút HIV với ý thức để truyền bệnh này cho nhiều người khác. Trong trường hợp hành vi của người phạm tội mới chỉ làm nhiễm vi rút HIV trong các túi hoặc bình máu dự trữ, chưa truyền máu đó cho người khác đã bị phát hiện, ngăn chặn kịp thời thì người phạm tội vẫn bị truy tố về tội cố ý truyền bệnh HIV cho người khác nhưng ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.

Hậu quả xảy ra là người khác cũng bị nhiễm HIV. Căn cứ để xác định nạn nhân có bị nhiễm bệnh hay không phải dựa vào xét nghiệm của cơ quan y tế có thẩm quyền. Nếu nạn nhân không bị nhiễm bệnh thì không cấu thành tội này. Phải làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xảy ra. Nạn nhân bị nhiễm HIV phải do lây lan từ người phạm tội, nếu nạn nhân bị nhiễm HIV do lây lan từ nguồn lây khác thì người đó không phạm tội này.

Dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu để xác định tội phạm đã hoàn thành. Giữa hậu quả và hành vi của người phạm tội phải có mối quan hệ nhân quả. Tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi truyền HIV từ người bệnh, nguồn bệnh sang cho người khác và chính bởi hành vi đó khiến cho nạn nhân nhiễm HIV. Trường hợp nạn nhân chưa nhiễm HIV nhưng người phạm tội đã thực hiện các hành vi thuộc mặt khách quan kể trên thì người đó vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Điều 149 Bộ luật Hình sự quy định chủ thể của tội cố ý truyền HIV cho người khác là người không thuộc trường hợp quy định tại Điều 148 của Bộ luật này. Vì thế, có thể hiểu chủ thể của tội phạm này là người không bị nhiễm HIV hoặc có bị nhiễm HIV nhưng vi rút HIV mà họ truyền cho người khác không phải vi rút HIV trong cơ thể của họ mà viruss từ cơ thể của người khác (Điều 148 quy định chủ thể của tội phạm phải là người nhiễm HIV). Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân thực hiện hành vi truyền HIV một mình nhưng cũng có thể là người thực hành; người tổ chức; người xúi giục hoặc người giúp sức trong vụ án đồng phạm cố ý truyền HIV cho người khác.

Tuy nhiên ngoài điều kiện chủ thể không phải là người bị nhiễm HIV được quy định riêng biệt trong Điều 149 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội phải đáp ứng được điều kiện từ đủ 16 tuổi trở lên theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự và điều kiện có đủ năng lực trách nhiệm hình sự gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện việc truyền HIV cho người khác với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội hoàn toàn biết rõ hành vi truyền  HIV sẽ gây ra hậu quả làm nạn nhân bị HIV và mong muốn hậu quả ấy xảy ra. Hành vi truyền HIV cho người khác nguy hiểm hơn nhiều so với hành vi lây truyền HIV cho người khác nên nhà làm luật coi hành vi truyền HIV là hành vi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, còn hành vi lây truyền HIV nhà làm luật chỉ coi là hành vi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng.

3. Các tình tiết định khung hình phạt cụ thể

a) Có tổ chức.

Cũng giống như trường hợp phạm tội có tổ chức trong các tội phạm khác,  là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện hành vi cố ý truyền HIV vào cơ thể người khác, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu.

Khi xác định trường hợp phạm tội này cần chú ý phân biệt với trường hợp đồng phạm thông thường có từ hai hoặc nhiều người cùng cố ý truyền HIV cho người khác nhưng không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau; không có phân công vai trò của mỗi người, không vạch kế hoạch và không có người cầm đầu.

b) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trường hợp phạm tội này người phạm tội không vì động cơ cản trở người thi hành công vụ mà có thể vì bất cứ động cơ nào. Tuy nhiên, nếu vì lý do công vụ của nạn nhân mà người phạm tội có ý truyền HIV cho họ thì cần xác định nạn nhân phải là người đã thi hành một công vụ và vì việc thi hành công vụ đó mà bị người phạm tội cố ý lây truyền HIV cho họ thì người phạm tội mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 149 Bộ luật Hình sự.

c) Đối với người dưới 18 tuổi.

Trường hợp phạm tội này, người bị nhiễm HIV ( người bị hại) là người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi).

Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định cách xác định tuổi của nạn nhân dưới 16 tuổi như sau:

Việc xác định tuổi của người bị hại dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

- Giấy chứng sinh;

- Giấy khai sinh;

- Chứng minh nhân dân;

- Thẻ căn cước công dân;

- Sổ hộ khẩu;

- Hộ chiếu.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

- Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

- Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

- Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

- Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

d) Đối với từ 02 người trở lên.

Nạn nhân bị truyền HIV là từ 02 người trở lên. Trường hợp này, người phạm tội đã truyền HIV trên diện rộng, ảnh hưởng đến nhiều người. Nhà làm luật cũng quy định nếu nạn nhân nhiễm HIV từ 02 đến 05 người thì người phạm tội chịu trách nhiệm theo Khoản 2 Điều 149 Bộ luật Hình sự còn nếu số nạn nhân từ 06 người trở lên thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm theo Khoản 03 Điều này.

đ) Lợi dụng nghề nghiệp.

Lợi dụng nghề nghiệp để cố ý truyền HIV cho người khác là trường hợp người phạm tội đã lợi dụng nghề nghiệp của mình mà nghề đó có khả năng, điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hành vi cố ý truyền HIV cho người khác như lợi dụng việc chữa bệnh cho nạn nhân để truyền HIV cho người mà mình chữa bệnh. Ví dụ: Vũ Thị C là y tá Trung tâm cai nghiện. C biết H là người bị nhiễm HIV. Do có mâu thuẫn với K là người yêu cũ cũng bị đưa vào trung tâm cai nghiện, nên C có ý định trả thù K. Một lần Vũ Thị C được phân công trực, thấy K và H đều bị lên cơn sốt, theo chỉ định của bác sĩ điều trị, K và H đều phải tiêm thuốc giảm sốt. Lợi dụng cơ hội này, Vũ Thị C đã dùng kim tiêm và xi lanh tiêm thuốc cho H đẻ tiêm thuốc cho K với ý định để K cũng bị nhiễm HIV.

e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 31% trở lên.

Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích, mức độ rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

f) Đối với phụ nữ mà biết là có thai.

Trường hợp này người phạm tội biết nạn nhân là phụ nữ có thai nhưng vẫn có ý truyền HIV cho nạn nhân. Trường hợp nạn nhân không có thai nhưng người phạm tội đinh ninh là có thai và thực hiện hành vi truyền HIV thì cũng bị coi là phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai.

Ví dụ: A có một số biểu hiện như nôn khan, thèm chua,...(một số biểu hiện của người phụ nữ mang thai) nhưng không mang thai và B (bạn trai cũ của A) nghĩ rằng A mang thai, B muốn trả thù A vì A đã chia tay B và cho rằng A mang thai với người đàn ông khác trong lúc yêu B. Do vậy, B đã tiêm chích ma túy cho A.

g) Làm nạn nhân tự sát.

Làm nạn nhân tự sát tức là sau khi nạn nhân bị truyền HIV, biết mình đã nhiễm HIV, nạn nhân không thể chấp nhận được và không có mong muốn sống tiếp nên đã tự sát.

Hành vi tự sát của nạn nhân phải xuất phát từ việc bị người phạm tội truyền HIV, nếu nạn nhân bị HIV và muốn tự sát nhưng không phải cho người phạm tội truyền mà đã bị người khác truyền HIV trước đấy thì người phạm tội không phải chịu trách nhiệm về tình tiết làm nạn nhân tự sát.

4. Hình phạt đối với tội cố ý truyền HIV cho người khác

Điều 149 Bộ luật Hình sự quy định 04 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với người nào cố ý truyền HIV cho người khác.

- Khung hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức; đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đối với người dưới 18 tuổi; đối với từ 02 người đến 05 người; lợi dụng nghề nghiệp; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 31% đến 60%.

- Khung hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân  khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: đối với phụ nữ mà biết là có thai; đối với 06 người trở lên; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 61% trở lên; làm nạn nhân tự sát.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Vụ án thực tế xét xử về tội cố ý truyền HIV cho người khác

Bản án số 34/2017/HSST ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân daanh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu[1]

Vào khoảng tháng 01/2014, do Đào Thị Thu T nhận được nhiều tin nhắn điện thoại nặc danh với nội dung bạn trai của T có quan hệ tình cảm và có con chung với bà Nguyễn Thị L, nên T có ý định thuê người xác minh thông tin trên và theo dõi gia đình bà L. T tìm gặp và  thuê  Lê  Trung L1 theo dõi gia đình bà L1 với giá 20.000.000 đồng trong thời hạn 01 tháng. Việc trao đổi thông tin bằng hình thức L1 gửi tài liệu thu thập được trong quá trình theo dõi gia đình bà L1 cho T qua dịch vụ bưu chính theo địa chỉ đường Nguyễn K, phường T, quận M, thành phố N.

Sau khi theo dõi, L1 đã gửi cho T một số thông tin, hình ảnh về gia đình bà L và con của bà L là cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 28/4/2013. Khoảng 01 tháng sau, T gọi điện thoại thuê L1 lấy mẫu tóc hoặc móng tay của cháu H để T xét nghiệm ADN với số tiền 20.000.000 đồng. Sau đó, Lê Trung L1 đến nhà bà  L giả làm nhân viên tiếp thị sữa Vinamilk để tiếp cận cháu H lấy mẫu móng tay của cháu H gửi cho T. T đã trả tiền cho L1 thông qua tài khoản ngân hàng Vietcombank mang tên Lê Trung L1.

Khoảng tháng 4/2015, T có ý định muốn hại cháu Nguyễn Đức H nên hẹn gặp L1 để bàn các phương án như: bắt cóc cháu H bỏ vào chùa hoặc gây tai nạn giao thông đối với cháu H hoặc T sẽ ôm cháu H lao vào xe tự tử... Sau khi bàn bạc, T đồng ý thuê L1 bắt cóc cháu H bỏ vào chùa với giá 240.000.000 đồng. L1 rủ thêm đối tượng tên T1 (chưa rõ lai lịch, nhân thân) cùng tham gia. T đã chuyển qua tài khoản ngân hàng cho L1 số tiền 240.000.000 đồng. Theo L1 khai thì L1 đã đưa cho T1 số tiền 120.000.000 đồng để thực hiện việc bắt cóc cháu H nhưng sau đó T1 nói với  L1 là không thực hiện được và không trả lại tiền cho L1 rồi bỏ đi đâu không rõ.Khoảng tháng 5/2015, T hẹn gặp L1 tại thành phố M. T tiếp tục nói cho L1 về ý định muốn hại cháu Nguyễn Đức H. L1 rủ bạn là Huỳnh Văn T2 cùng tham gia. Sau khi bàn bạc, L và T 2 nói với T phương án sử dụng kim tiêm có máu của người nhiễm bệnh HIV chích vào người cháu H. T đồng ý. Sau đó, T nói cho L1 biết vào ngày 01/6/2015, Công ty của bà L có tổ chức buổi liên hoan Quốc tế thiếu nhi cho các cháu thiếu nhi nên cháu H sẽ đến chơi. T, L1 và T2 bàn bạc sẽ chuẩn bị 02 bộ quần áo thú bông để cải trang đến Công ty bà L tiếp cận, chích kim tiêm có máu người nhiễm bệnh HIV vào người cháu H. Đến cuối tháng 5/2015, T cùng L và T2 thuê nhà nghỉ “N” tại số 150 đường H,  phường 12, quận B, thành phố M để bàn bạc việc tìm máu người nhiễm HIV cũng như cách thức lấy máu người nhiễm HIV ra ngoài môi trường mà không bị đông và phải làm sao khi chích kim tiêm vào người cháu H mà cháu H không biết. L1 đặt mua 02 bộ quần áo thú bông, T2 mua 01 bộ dụng cụ thử đường huyết (có hình dạng giống cây bút, một đầu có kim nhỏ) mang đến nhà nghỉ. Để thử nghiệm, T2 rút máu của mình cho lần lượt vào từng lọ nước lã, lọ nước muối và lọ nước mắm. Kết quả cho thấy khi cho máu người vào lọ nước muối thì máu không đông. T, L1 và T2 thống nhất việc lấy máu người nhiễm HIV bỏ vào lọ nước muối để bảo quản rồi sử dụng chích vào người cháu H.

Sáng  ngày  01/6/2015,  thông  qua  người quen, T2 gặp ông Trần Tuấn N,  sinh năm 1979, đường B, phường 10, quận 4, thành phố M nhờ tìm  người bị nhiễm HIV để mua máu với lý do nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp. Ông N giới thiệu T2 đến gặp một đối tượng nghiện ma túy (không rõ lai lịch, địa chỉ) và cho rằng đối tượng này đã bị nhiễm HIV. T2 mua của đối tượng này 01 ống xi lanh máu với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, T2 đến cửa hàng thuốc tây trên đường T, thành phố M mua một bộ dụng cụ thử máu rồi cùng L1 mang theo 02 bộ quần áo thú bông đi xe máy từ thành phố M đến Công ty của bà L tại đường 3/2, thành phố T, tỉnh T.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, L và T2 mặc quần áo thú bông để cải trang và cầm kim tiêm nhiễm máu người bị HIV đi vào Công ty của bà L tìm  cháu H.  Do  cháu H không đến tham gia buổi tiệc nên L1 và T2 đi về. Sau đó, L1 gọi điện thoại báo cho T biết.

Ngày 08/6/2015, T gọi điện thoại thuê L1 và T2 đến thành phố T tiếp tục thực hiện việc  chích kim tiêm có  máu  của người bị  nhiễm  HIV  vào  người  cháu H. Thông qua ông N, T2 mua máu của một đối tượng (chưa rõ lai lịch địa chỉ) mà T2 cho rằng đối tượng này bị nhiễm HIV tại khu vực quận 4, thành phố M với giá 200.000 đồng. T2 đến tiệm thuốc tây mua một bộ dụng cụ thử đường huyết như lần trước. Sau đó, L1 và T2 đi xe mô tô biển số 54R3 –4355 từ thành phố M đến thành phố T, tỉnh T.

Sáng ngày 09/6/2015, L1 điều khiển xe mô tô chở T2 đến trước cổng trường mầm non “V” tại số đường C, phường 8, thành phố T. L1 dựng xe đứng ở ngoài đường, còn T2 mang  theo  kim  tiêm  có  máu  người nhiễm HIV chuẩn bị sẵn đứng ở cổng trường mầm non “V” chờ gia đình bà L đưa cháu H đến trường học. Đến khoảng 7 giờ cùng ngày, khi thấy bà L cõng cháu H trên lưng đi bộ từ nhà đến trường mầm non “V” thì L1 ra hiệu cho T2 biết. T2 đi đến sát bà L dùng kim tiêm có máu  người nhiễm HIV chích vào chân phải cháu H rồi cùng L1 nhanh chóng tẩu thoát. Phát hiện chân của cháu H bị chảy máu và  nghi ngờ do bị kim tiêm chích nên bà L liền đưa cháu H đến bệnh viện kiểm tra sức khỏe, tiêm thuốc chống phơi nhiễm HIV, đồng thời trình báo vụ việc cho Công an phường 8, thành phố T.

Sau khi gây án, L1 gọi điện thoại báo cho T biết đã thực hiện xong việc chích kim  tiêm  có  máu  người nhiễm HIV vào người cháu H. T yêu cầu L chuyển kim tiêm trên cho T thông qua dịch vụ bưu chính để T kiểm tra. Sau khi nhận được kim tiêm do L1 gửi, T chuyển qua tài khoản ngân hàng cho  L số tiền 120.000.000 đồng. Số tiền này, L1 và T2 chia nhau mỗi người 60.000.000 đồng tiêu xài hết.

Từ nội dung vụ án cùng các chứng cứ, tài liệu đi kèm, Hội đồng xét xử nhận định: Tính mạng, sức khỏe của con người là vô giá. Pháp luật nhà nước ta sẽ trừng trị những người nào có hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác. Trong vụ án này chỉ vị hám lợi, muốn có tiền hưởng thụ bất chính nên các bị cáo đã bất chấp đạo lý làm người, bất chấp pháp luật, có ý thức phạm tội đến cùng, đặc biệt là phạm tội đối với trẻ em. Hành vi này không những đã gây phẫn nộ tột cùng trong quần chúng nhân dân mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, các bị cáo phải bị xử lý thích đáng tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, góp phần trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.

Qua vụ án xác định bà T là chủ mưu, cầm đầu xuyên suốt trong quá trình các bị cáo L1 và T2 phạm tội: “Cố ý truyền HIV cho người khác”. Mặc dù tại phiên tòa ngày 11/4/2017, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã hoãn phiên tòa và trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, tiến hành giám định lại về sức khỏe và tâm thần của bà Đào Thị Thu T nhưng không có kết quả. Để đảm bảo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm nên Hội đồng xử án kiến nghị các cơ quan tố tụng Trung ương xem xét về trường hợp của bà Đào Thị Thu T (trong phiên tòa này Hội đồng xét xử sẽ không định tội danh và hình phạt đối với bà T mà đưa lên cơ quan tố tụng trung ương xem xét).

Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử tuyên bố tội danh và hình phạt đối với hai bị cáo là Lê Trung L1 và Huỳnh Văn T2 như sau:

Bị cáo Lê Trung L phạm tội “Cố ý truyền HIV cho người khác” , xử phạt bị cáo L1 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (08/4/2016).

Bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội“Cố ý truyền HIV cho người khác”, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T2 10 (mười) năm tù.

Luật Hoàng Anh


[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta5378t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 19/06/2021.

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Hoạt động sản xuất hợp pháp chất ma túy, tiền chất và các chất chứa chất ma túy khác được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/06/2021

Nhà nước quy định hoạt động sản xuất chất ma túy (không bao gồm trồng cây có chứa chất ma túy), tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc v

Nhà trường, các cơ sở giáo dục có trách nhiệm gì trong phòng, chống ma túy cho học sinh, sinh viên?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/06/2021

Ngành giáo dục, trực tiếp là các cơ sở giáo dục có trách nhiệm và nghĩa vụ quan trọng nhất trong việc tuyên truyển, giáo dục ý thức đấu tranh phòng, chống ma túy cho học sinh, sinh viên

Tội mua bán người là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội mua bán người quy định tại Điều 150 BLHS