Tội cưỡng dâm là gì?

Giống với hiếp dâm, cưỡng dâm cũng là một cách mà người phạm tội ép người khác phải thực hiện hành vi quan hệ tình dục với mình trái ý muốn của họ. Nội dung của tội phạm này sẽ được Luật Hoàng Anh phân tích trong bài viết dưới đây.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 143 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định Tội cưỡng dâm như sau:

“Điều 143. Tội cưỡng dâm

1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Có tính chất loạn luân;

đ) Làm nạn nhân có thai;

e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:

a) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm

2.1. Khách thể của tội phạm

Cưỡng dâm là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Tội phạm này xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự và nhân phẩm. Trong nhiều trường hợp tội phạm còn xâm hại đến sức khỏe con người và ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.

Như vậy, khách thể của tội phạm là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người và trật tự an toàn xã hội.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Người phạm tội cưỡng dâm dùng rất nhiều thủ đoạn khác nhau như : lừa phỉnh, mua chuộc, dụ dỗ, đe doạ hoặc bằng tình cảm, bằng tiền bạc, có khi chỉ là một lời hứa... tức là người phạm tội  không từ một thủ đoạn nào miễn là thực hiện được ý đồ giao cấu với người bị hại hoặc lợi dụng người bị hại đang ở trong tình trạng quẫn bách để họ phải miễn cưỡng giao cấu với mình.

Người bị hại trong vụ án cưỡng dâm cũng có thể là nam giới, nhưng chủ yếu là nữ giới. Dù là nam hay nữ, thì họ phải là người lệ thuộc vào người phạm tội, nếu không phải là người bị lệ thuộc thì cũng phải là người đang ở trong tình trạng quẫn bách.

Người bị lệ thuộc vào người phạm tội cũng giống như sự lệ thuộc trong các tội “Hành hạ người khác”, tội “Bức tử” bao gồm sự lệ thuộc về tinh thần cũng như lệ thuộc về mặt vật chất bắt nguồn từ nhiều quan hệ khác nhau như : cha với con, thầy với trò, thầy thuốc với bệnh nhân,...

Người đang ở trong tình trạng quẫn bách là trường hợp người bị hại đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn, bức bách nhưng không tự mình khắc phục được mà cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ của người khác (ví dụ: không có tiền chữa bệnh hiểm nghèo; không có tiền để chuộc con mình đang bị bắt cóc...).

Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi quy định:

Giao cấu là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào.

Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây:

a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác;

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác.

Miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác là trường hợp nạn nhân mặc dù trong lòng không muốn cho giao cấu hoặc cho thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác nhưng bên ngoài buộc phải đồng ý. Nạn nhân có thời gian suy nghĩ cân nhắc có đồng ý hay không. Đây là căn cứ để phân biệt tội cưỡng dâm với tội hiếp dâm. Nếu nạn nhân thực sự khiếp sợ, tê liệt ý chí kháng cự mà phải để cho kẻ phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác thì hành vi đó phạm tội hiếp dâm theo Điều 141 Bộ luật Hình sự.

Tội cưỡng dâm được hoàn thành khi có hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác. Nếu chưa có hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác thì không cấu thành tội cưỡng dâm.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Tội cưỡng dâm được thực hiện bởi bất kỳ người nào từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.

Thứ nhất, tội cưỡng dâm được thực hiện bởi bất kỳ người nào. Đó có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài hay người không quốc tịch. Chủ thể thực hiện tội phạm có thể là cá nhân, thực hiện hành vi cưỡng dâm một mình. Nhưng cũng có thể là vụ án đồng phạm, nhiều người cùng thực hiện hành vi cưỡng dâm hoặc có một người thực hiện việc cưỡng dâm nhưng có người chỉ huy, hướng dẫn, có người khác xúi giục, giúp sức để người đó thực hiện hành vi cưỡng dâm thành công. Trên thực tế, chủ thể của tội cưỡng dâm thường là nam giới, bởi phái nữ bao giờ cũng yếu thế hơn nam giới nên dễ bị khống chế, đe dọa để quấy rối tình dục.

Thứ hai, căn cứ theo Điều 9 Bộ luật Hình sự, tội phạm thuộc Khoản 1 và Khoản 4 Điều 143 thuộc tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, tội phạm thuộc Khoản 2,3 Điều 143 thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 143 và người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về mọi loại tội phạm. Do đó, người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tất cả các tội từ Khoản 1 đến Khoản 4 Điều 143 về tội cưỡng dâm, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 143 Bộ luật Hình sự.

Thứ ba, người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tức là người đó phải có cả năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi. Nếu người đó phạm tội trong trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc bị hạn chế năng lực hình sự thì có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được hành vi mình làm là gì, nhận thức rõ nạn nhân không muốn phải quan hệ tình dục với mình, nhìn thấy trước hậu quả xâm hại thân thể, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân nhưng vẫn mong muốn hậu quả đó xảy ra. Động cơ để người phạm tội thực hiện hành vi này với là để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của mình.

3. Các tình tiết định khung hình phạt cụ thể

a) Nhiều người cưỡng dâm một người.

Theo Khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Nhiều người cưỡng dâm một người là trường hợp 02 người trở lên cưỡng dâm 01 người. Cũng được coi là “nhiều người cưỡng dâm một người” nếu có từ 02 người trở lên cùng bàn bạc, thống nhất sẽ thay nhau cưỡng dâm 01 người, nhưng vì lý do ngoài ý muốn mới có 01 người thực hiện được hành vi cưỡng dâm. Không coi là “nhiều người cưỡng dâm một người”, nếu có từ 02 người trở lên câu kết với nhau tổ chức, giúp sức cho 01 người cưỡng dâm (trường hợp này là đồng phạm).

b) Phạm tội 02 lần trở lên.

Theo Khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

c) Đối với 02 người trở lên.

Đây là trường hợp người phạm tội cùng thực hiện cưỡng dâm đối với 02 người trở lên.

d) Có tính chất loạn luân.

Theo Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dực người dưới 18 tuổi quy định:

Có tính chất loạn luân là một trong các trường hợp sau đây:

- Phạm tội đối với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha;

- Phạm tội đối với cô ruột, dì ruột, chú ruột, bác ruột, cậu ruột, cháu ruột;

- Phạm tội đối với con nuôi, bố nuôi, mẹ nuôi;

- Phạm tội đối với con riêng của vợ, con riêng của chồng, bố dượng, mẹ kế;

- Phạm tội đối với con dâu, bố chồng, mẹ vợ, con rể.

đ) Làm nạn nhân có thai.

Cưỡng dâm mà làm nạn nhân có thai là do hành vi cưỡng dâm của người phạm tội mà nạn nhân có thai, tức là cái thai của nạn nhân là kết quả của việc giao cấu giữa người phạm tội với nạn nhân. Nếu nạn nhân tuy có bị hiếp dâm nhưng việc nạn nhân có thai lại là kết quả của việc giao cấu giữa nạn nhân với người khác thì người phạm tội hiếp dâm không phải chịu tình tiết “làm nạn nhân có thai”.

e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên.

Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích, mức độ rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

Đây là trường hợp người phạm tội ngoại trừ thực hiện hành vi xâm hại tình dục nạn nhân mà còn xâm hại đến sức khỏe của nạn nhân, gây thương tích ở mức đáng kể cho nạn nhân.

g) Tái phạm nguy hiểm.

Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Như vậy cưỡng dâm người trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là trường trước đây họ đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà đã cưỡng dâm người khác hoặc trước đây họ đã bị kết án về tội cưỡng dâm, chưa được xóa án tích mà nay lại tiếp tục cưỡng dâm người khác.

h) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

Người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn cưỡng dâm, tức là cố ý lây truyền HIV cho người khác bằng hành vi cưỡng dâm, làm cho tính chất và mức độ của hành vi cưỡng dâm nguy hiểm hơn nhiều so với trường hợp cưỡng dâm bình thường.

i) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

Trường hợp làm nạn nhân chết là trường hợp nạn nhân do bị cưỡng dâm mà chết, nếu nạn nhân bị chết không phải là do bị cưỡng dâm mà do nguyên nhân khác thì không thuộc trường hợp phạm tội.

Nạn nhân tự sát là trường hợp bởi vì bị cưỡng dâm, nạn nhân cảm thấy xấu hổ, tủi nhục, không còn mong muốn sống tiếp nên đã tự sát.

k) Cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là những người chưa thành niên, chưa có đầy đủ nhận thức, chưa phát triển hoàn toàn về thể chất, tâm lý. Tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi cưỡng dâm người chưa thành niên sẽ nặng hơn so với hành vi cưỡng dâm người đã thành niên rồi.

Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định cách xác định tuổi của nạn nhân dưới 16 tuổi như sau:

Việc xác định tuổi của người bị hại dưới 16 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

a) Giấy chứng sinh;

b) Giấy khai sinh;

c) Chứng minh nhân dân;

d) Thẻ căn cước công dân;

đ) Sổ hộ khẩu;

e) Hộ chiếu.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

a) Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

b) Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

c) Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

d) Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

4. Hình phạt đối với người phạm tội cưỡng dâm

Điều 143 Bộ luật Hình sự quy định 05 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt tù từ 01 năm đến 05 năm trong trường hợp người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

- Khung hình phạt phạt tù từ 03 năm đến 10 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: Nhiều người cưỡng dâm một người; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; có tính chất loạn luân; làm nạn nhân có thai; gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt phạt tù từ 10 năm đến 18 năm khi người phạm tội thực hiện một trong các hành vi sau đây: Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội; làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

- Khung hình phạt phạt tù từ 02 năm đến 07 năm trong trường hợp người phạm tội cưỡng dâm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, nếu nạn nhân là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nhưng người phạm tội lại thực hiện một trong số những hành vị nếu tại Khoản 2 hoặc Khoản 3 thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó. Ví dụ A cưỡng dâm B (cháu B mới 17 tuổi) và làm cháu B mang thai. Trường hợp này nạn nhân là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nhưng A thực hiện hành vi cưỡng dâm có tình tiết định khung là làm B mang thai theo Khoản 2 Điều 143 Bộ luật Hình sự. Khi đó, A sẽ được xét xử theo Khoản 2 Điều 143, khung hình phạt từ 3 năm đến 10 năm tù chứ không phải xử theo Khoản 4 Điều 143 (khung hình phạt 02 năm đến 07 năm tù).

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Vụ án thực tế xét xử về tội cưỡng dâm

Bản án số 83/2021/HSST ngày 23/4/2021 “V/v xét xử bị cáo Hoàng Tuyển T - phạm tội cưỡng dâm” của Tòa án Nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.[1]

Bị cáo T và chị T có quan hệ tình cảm với nhau từ tháng 11/2020. Trong thời gian này bị cáo T và  chị T quan hệ tình dục với nhau và bị cáo T đã sử dụng điện thoại của mình chụp ảnh khoả thân của chị T. Sau đó, chị T muốn chấm dứt quan hệ tình cảm với bị cáo T, không đồng ý tiếp tục quan hệ tình dục với bị cáo T thì bị cáo T liên tục gửi ảnh khoả thân của chị Tqua zalo cho chị T và đe doạ nếu chị T không quan hệ tình dục với chị cáo T thì bị cáo T sẽ đăng ảnh khoả thân của chị T lên mạng xã hội và gửi cho bạn bè của chị T. Khoảng 09h ngày 7/12/2020, bị cáo T tiếp tục sử dụng zalo gửi tin nhắn đe doạ sẽ đăng ảnh khoả thân của chị T lên mạng xã hội để ép chị T quan hệ tình dục với bị cáo T. Do lo sợ ảnh khoả thân của mình bị phát tán nên chị T đã đồng ý đến nhà nghỉ để quan hệ tình dục với bị cáo T. Khoảng 10h45 ngày 7/12/2020 khi bị cáo đang quan hệ tình dục với chị T thì bị công an bắt quả tang và đưa về trụ sở để làm rõ.

Chị Nguyễn Thị T khai nhận: Do lo sợ bị cáo T đăng ảnh khoả thân của chị lên mạng xã hội nên đã miễn cưỡng đồng ý quan hệ tình dục với bị cáo T tại nhà nghỉ theo yêu cầu của bị cáo. Sau khi bị cưỡng dâm chị T không bị thương tích gì, tinh thần hiện đã ổn định. Chị T yêu cầu truy tố bị cáo trước pháp luật và không yêu cầu gì về dân sự. Lời khai của bị cáo Hoàng Tuyển T phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo đã thực hiện đối với bị hại là chị Nguyễn Thị T bằng các hành vi đe dọa tinh thần, cụ thể bị cáo đã liên tục nhắn tin, gửi ảnh phát tán ra mạng xã hội gây mất uy tín, danh dự của chị T, mục đích của bị cáo đã thỏa mãn bằng việc giao cấu với chị T.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nằm trong độ tuổi quy định phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng dâm. Trong lúc thực hiện hành vi phạm tội, tinh thần của bị cáo hoàn toàn bình thường.

Vì lẽ đó, Tòa án nhân dân quận Long Biên tuyên bố, bị cáo Hoàng Tuyển T phạm tội cưỡng dâm, xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2020.

Luật Hoàng Anh


[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta701495t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 16/6/2021.

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có điểm gì giống và khác nhau?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

So sánh tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Khung hình phạt đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định pháp luật hình sự?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/06/2021

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 với bốn khung hình phạt chính và một khung hình phạt bổ sung

Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định tại điều 144 BLHS

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 20/06/2021

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 142 BLHS